VŨ BÌNH LỤC-NHÀ PHÊ BÌNH PHONG TRÀO
Bùi Công Thuấn
Vũ Bình Lục được kết nạp Hội Nhà văn Việt Nam cùng một lần với tôi 2015. Khi đứng nhận quyết định kếp nạp Hội, ông đứng bên cạnh tôi. Thú thực là lúc ấy tôi chưa biết gì về ông. Lời giới thiệu của nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam làm tôi chú ý đến ông.
1.Nhà văn xuất thân từ quần chúng
Vũ Bình Lục tuổi Mậu Tý (1948), quê gốc huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Học hết cấp II ở quê, ông sang Kiến An học tiếp cấp III và lên đường nhập ngũ năm 1967, khi chưa hoàn thành chương trình phổ thông năm cuối cấp. Sau mấy năm chiến đấu ở chiến trường khu V, Vũ Bình Lục được ra Bắc điều dưỡng, rồi giải ngũ về quê...
Vũ Bình Lục kể cho Phạm Đình Ân về cuộc sống của mình [1]:
“Gốc tích tôi họ Vũ Đình, viễn tổ ở Hải Dương. Kể cả những năm chiến tranh thì tôi có khoảng một phần tư thế kỷ sống với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên… Khi tôi chuyển cả gia đình vào Tây Nguyên, nhiều người bảo tôi bị điên, tự dưng lại bỏ quê để lao vào chốn rừng thiêng nước độc… Tôi thích chỗ thoáng đãng rộng rãi, lại còn mơ làm ông chủ đồn điền cà phê nữa cơ đấy...
...Tôi quyết định về Hà Nội vì Tôi biết và cũng được nghe một số người nói rằng, nhà văn Nguyễn Tuân, cả họa sĩ Nguyễn Sáng nếu không sống ở Hà Nội thì không thể thành nghệ sĩ lớn được… Tôi cũng theo gương các bậc tài danh kia, chỉ tiếc là mình thì tài hèn sức mỏng, cuối đời mới dám mon men đến chân cầu Chương Dương...
Những năm tháng trực tiếp chiến đấu ở chiến trường, tôi là lính đặc công. Chiến trường khu V vô cùng ác liệt. Sốt rét, đói khát quanh năm, nhất là từ sau Tết Mậu Thân 1968. Song đối diện với chính mình mới là điều khó khăn nhất. Đồng đội cứ vơi dần đi sau mỗi lần hành quân. Trận thắng nhiều, nhưng trận thua không phải là ít. Đối phương mạnh hơn mình nhiều lần về vũ khí và điều kiện sinh hoạt cá nhân. Đương nhiên mình phải nghĩ ngợi nhiều, có lúc cảm thấy căng thẳng, thậm chí nản lòng. Thế nhưng, như bao đồng đội khác, tôi đã không gục ngã. Chúng tôi đã chiến thắng bằng ý chí. Tại sao tôi không viết được gì trong chiến trường? Có lẽ ở thời điểm đó tôi nghĩ đấy không phải là việc của mình, khi mà chúng tôi luôn đối mặt trực diện với địch, cái chết lúc nào cũng rình rập…”
Theo Phạm Đình Ân, Đến nay Vũ Bình Lục đã xuất bản được gần 20 đầu sách. Ngoài các tập thơ, Vũ Bình Lục còn có nhiều bộ sách chuyên đề nghiên cứu và phê bình văn học như: Giai phẩm với lời bình, Hồn nhiên trong thơ Lý-Trần, Thánh thơ Cao Bá Quát, Hồng Hạc cõi trời Nam,…
Rất tiếc tôi chưa có dịp đọc tất cả những gì Vũ Bình Lục đã viết, vì thế không thể đánh giá “sự nghiệp” văn chương của ông. Đọc một số bài phê bình của ông, tôi ghi nhận vài đặc điểm ngòi bút phê bình của Vũ Bình Lục. Tôi nghĩ, phê bình là một phần đồ sộ bên cạnh sự nghiệp sáng tác của ông.
2. Nhà phê bình của quần chúng.
Vũ Binh Lục xuất thân từ quần chúng, trưởng thành trong lao động và chiến đấu. Ông cũng là một nhà giáo, việc viết lách khởi đi từ tấm lòng say mê văn học, đối tượng ông hướng tới là bạn đọc hôm nay. Ông chia sẻ:
“Chỉ là vì tôi đắm đuối với văn chương từ hồi còn bé. Đọc rất nhiều và trí nhớ cũng rất tốt. Người ta bảo rằng hãy cứ sống đi rồi hẵng viết. Sống và đọc, để tích lũy vốn sống và tri thức. Khi đã đến độ chín rồi thì viết rất nhanh. Một năm làm việc bằng cả mười năm cộng lại…”[đd]
Ông nói về những gì đã làm được:
“Hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã sáng tác rất nhiều, nói như các cụ ta xưa thì sách vở có thể chất thành gò đống, xe kéo voi thồ cũng không thể hết. Nhưng giặc phương Bắc dã tâm tiêu diệt tận gốc nền văn hóa của ta,… Số sách vở còn lại chẳng còn được bao nhiêu, nhưng cũng là vô cùng quý giá. Các cụ ta xưa đã nối tiếp nhau sưu tầm, nghiên cứu. Nhưng những sáng tác ấy đều bằng chữ Hán và chữ Nôm cả. Sưu tầm nghiên cứu thì cũng đã nhiều người, nhiều thế hệ làm rồi, nhưng chủ yếu là ở mức độ văn bản học. Tôi dựa trên kết quả của các thế hệ đi trước để làm tiếp công việc dịch các tác phẩm ấy chủ yếu ra thơ lục bát truyền thống, bình giải cái hay cái đẹp của thơ ca xưa để bạn đọc ngày nay dễ tiếp nhận mà thôi. Mình tài hèn sức mỏng, nhưng cũng cố gắng làm được đến đâu thì hay đến đó …”
Nhà thơ Vũ Quần Phương đánh giá cao việc Vũ Bình Lục dịch những bài thơ Thất ngôn bát cú chữ hán trong văn học cổ của dân tộc theo lối Lục bát truyền thống: "bình dân hóa bằng thơ lục bát và thêm lời dẫn giải sẽ giúp đông đảo bạn đọc có điều kiện thẩm thơ cổ”.[2]
PGS, TS Trần Thị Trâm nhận xét:
“Gần đây, Vũ Bình Lục lại xuất hiện với tư cách nhà nghiên cứu phê bình. Chỉ trong vòng ba năm (2010 - 2013), sau khi về hưu, rời phố núi Ðác Lắc về Thủ đô, ngoài tập thơ Mơ gần mơ xa, ông giáo Lục đã trình làng một bộ sách đồ sộ, gồm 6 cuốn Giai phẩm với lời bình, gần 2.400 trang, khổ 14,5 x 20,5 cm. Tất cả đều được đóng bìa cứng một cách hết sức trang trọng. Ðọc, mới thấy anh là người đầy nội lực, dám nghĩ, dám làm, dám thử sức ở một lĩnh vực quá khó, đòi hỏi một trình độ cao.
…Là nhà giáo suốt gần 40 năm giảng dạy cho học sinh chuyên văn, thói quen làm việc bài bản, mực thước của một nhà sư phạm lâu năm luôn hiện diện trong từng trang viết của Vũ Bình Lục, nên gặp bất kỳ điển tích, điển cố, hay những thuật ngữ Phật học, Thiền học nào trong thơ cổ, ông cũng đều giảng giải kỹ càng, cẩn trọng. Ðiều này một lần nữa chứng tỏ lao động nghệ thuật nghiêm túc và vốn kiến thức văn hóa phương Ðông rộng, chắc chắn của nhà nghiên cứu…”.”[3]
3.Vũ Bình Lục với việc diễn giải thơ
Đây là một bài thơ Lý-Trần quen thuộc, Vũ Bình Lục chuyển từ Thất ngôn chữ Hán sang Lục bát tiếng Việt
示 第 子
身 如 電 影 有 還 無
萬 物 春 榮 秋 又 枯
任 運 盛 衰 無 怖 畏
盛 衰 如 露 草 頭 舖
Thị đệ tử - Vạn Hạnh Thiền sư
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
Nghĩa của bài thơ:
Thân [đời người] như ánh chớp/ có rồi không
Mùa xuân, vạn cây tươi tốt/ mùa thu lại khô héo
[Hãy] Mặc vận hạn thịnh suy/ không sợ hãi
[vì] Thịnh suy [chỉ] như giọt sương/ phô trên ngọn cỏ
Vũ Bình Lục dịch thơ:
Bảo các đồ đệ:
Đời người có có không không
Cỏ xuân tươi tốt, khi đông héo tàn
Sương treo ngọn cỏ mang mang
Vận đời suy thịnh vô vàn, sợ chi!
Bản dịch thơ của Vũ Bình Lục giữ được ý của nguyên tác, thấp thoáng sự tài hoa, song tác giả đã dịch thoát nhiều
Câu 1: “Thân như điện ảnh” nghĩa là sự tồn tại của con người trong đời (đời người) như ánh chớp. “Điện ảnh” là hình ảnh riêng của Thiền để chỉ cái mau qua. Bản dịch bỏ mất từ này.
Câu 2: Vạn mộc/ xuân vinh thu hựu khô, nghĩa là: Vạn cây (chỉ chung cây cối) mùa xuân tươi tốt, mùa thu lại khô héo, chỉ cái quy luật có sinh có diệt của vạn pháp. Câu 2 là để làm rõ nghĩa hơn cho câu 1: Đời người có đấy rồi không đấy, như cây xanh tốt mùa xuân và khô héo vào mùa thu. Đó là quy luật. Vũ Bình Lục dịch là: Cỏ xuân tươi tốt, khi đông héo tàn, đã chuyển “thu” thành “đông”, chuyển “vạn mộc” thành cỏ xuân, xáo trộn hẳn trật tự ngữ pháp câu.
Câu 3 & 4 của bản dịch đải lộn câu 4 và câu 3 của nguyên tác. Việc đảo vị trí câu này làm sai lệch ý nghĩa với nguyên tác, và làm hỏng tứ thơ.
Sương treo ngọn cỏ mang mang
Vận đời suy thịnh vô vàn, sợ chi!
Câu: “Sương treo ngọn cỏ mang mang” nghĩa rất mơ hồ: giọt sương treo ngọn cỏ gợi ra bao nỗi hoang mang, hoặc chứa chất nỗi niềm mênh mang?(vì giọt sương không biết rơi xuống đất lúc nào) khác với “lộ thảo đầu phô” là hạt sương lộ ra trên đầu ngọn cỏ, chỉ cái nhỏ bé và tan biến nhanh như sương tan khi nắng lên).
“Nhậm vận thịnh suy” là “mặc [đời] thịnh suy, chuyển thành: “Vận đời suy thịnh vô vàn”, thêm vào chữ “vô vàn” (từ chỉ số lượng nhiều không thể biết hết đựợc) làm hỏng tứ “vận thịnh suy”(đời người có lúc thịnh lúc suy-số lượng hữu hạn) và bỏ mất chữ “Nhậm” (mặc kệ-không bận tâm) biểu thị thái độ.
Ở nguyên tác, câu 3 có ý nghĩa chính, câu 4 chỉ là lý giải cho câu 3: Mặc đời thịnh suy, không sợ hãi, vì thịnh suy chỉ như giót sương trên đầu ngọn cỏ. Ngược lại, bản dịch thơ chuyển câu 4 của nguyên tác thành câu 3, như vậy là ý phụ thành ý chính: Giọt sương treo ngọn cỏ gợi ra bao nỗi mang mang. [Còn] vận đời thịnh suy vô vàn, không có gì phải sợ.
Do phải tuân thủ luật gieo vần của Lục bát nên Vũ Bình Lục đã vấp phải những khó khăn trên (biến “Thu” thành “Đông”, thêm vào chữ “vô vàn” “ để vần với chữ “mang mang”). Điều này đặt ra cho người chuyển thể từ thơ Thất ngôn sang Lục bát nhiều vấn đề cần vượt qua. Tôi nghĩ thơ Thất ngôn chữ Hán chuyển sang Thất ngôn tiếng Việt sẽ thuận lợi hơn và giữ được đặc sắc nghệ thuật của nguyên tác hơn…
Lại ngẫm nghĩ Vũ Bình Lục cần nghiên cứu kỹ hơn nữa nguyên tác văn bản chứ Hán trước khi chuyển thành thơ Lục bát tiếng Việt để bản dịch thơ tốt hơn.
Vũ Bình Lục đọc thơ thế nào?
Hãy xem Vũ Bình Lục đọc bài thơ Cây Chuối (Ba Tiêu) của Nguyễn Trãi?
BA TIÊU
(CÂY CHUỐI)
Từ bén hơi xuân tốt lại thêm,
Đầy buồng lạ màu thâu đêm.
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu gượng mở xem.
“Tổng quan, bài thơ được biểu hiện ở hai nét nghĩa: Hiển ngôn và ẩn dụ, nét nghĩa nào là chủ đạo? Nhưng nói đến nét nghĩa ẩn dụ (nếu có), thì trước hết và bao giờ cũng phải là nghĩa hiển ngôn, hay là nghĩa tường minh, nôm na là nghĩa đen, nghĩa cụ thể, hiện ra trên mặt chữ của bài thơ. Đương nhiên, nghĩa cụ thể ở đây là tả cây chuối, theo đó là cả buồng chuối, cùng với vẻ đẹp và mùi thơm độc đáo, hấp dẫn mê hồn của nó.
Từ bén hơi xuân tốt lại thêm. Từ khi bén được hơi xuân, gặp được hơi xuân ấm áp, thì cây chuối lại tốt tươi thêm. Nhưng Đầy buồng lạ màu thâu đêm thì là tả buồng chuối với một sự rất lạ, màu thâu đêm. Mùi thơm (mầu) thơm lạ thơm lùng của buồng chuối toả ra thơm nức cả một vùng trong đêm thanh vắng hay chăng? Thế nghĩa là chuối đã chín ngay từ khi còn treo ở trên cây rồi. Chuối đã chín trên cây, lại còn:
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu gượng mở xem
thì ý thơ đã chuyển sang tả lá chuối, xanh non, cuộn tròn như một bức tư tình còn phong kín.
… căn cứ vào thi pháp của nhà thơ Nôm số một Nguyễn Trãi. Đây không phải là một cây chuối cụ thể ở một thời điểm, mà là cây chuối của một quá trình từ trẻ đến già, được cách điệu, gián cách, như một thủ pháp thường thấy trong nghệ thuật nói chung. Ví như vừa nói mùa xuân, lại thấy tả ngay mùa đông, hoặc mùa hạ, trong rất nhiều bài thơ của Nguyễn trãi nói riêng chăng?
Vậy bài thơ này có nét nghĩa ẩn dụ gì không? Theo tôi nghĩ là có. Và chủ yếu cái hay ở bài thơ này là nghĩa ẩn dụ. Nó là một bài thơ tình rất tinh tế. Hình dung như một buồng the kín đáo, người đẹp trẻ trung, rưng rức mầu xuân rờ rỡ đang hiển hiện ở trước mắt. Nhất là từ khi bén được hơi xuân rồi, thì vẻ xuân, mầu xuân từ thân thể tuyệt mĩ của người đẹp càng như mơn mởn thêm ra. Này, hỡi chàng gió đa tình, hãy đến gần ngay đây để từ từ, nhẩn nha, nhẹ nhàng (gượng) mà mở ra xem, mà thưởng thức, chiêm ngưỡng cái thân thể ngọc ngà còn phong kín này! Giục giã, mời gọi, nhưng không hề thấy sự vội vã, gấp gáp…”
Tôi trích hơi dài để bạn đọc (chưa có dịp đọc cả bài bình của Vũ Bình Lục) cũng có thể nhận ra diện mạo và bút pháp của nhà phê bình trước đối tượng (Vũ Bình Lục và bài thơ Cây chuối của Nguyễn Trãi)
Trước tiên và văn phong, văn Vũ Bình Lục nghiêng về văn nói (đối thoại với công chúng), tác giả dùng nhiều từ thì, là, mà (là, hay là, nôm na là, thì là, Thế nghĩa là, không phải là, thì lại, lại còn) và dùng những câu hỏi để đặt vấn đề, để đối thoại, gợi sự chú ý của người nghe,: Hiển ngôn và ẩn dụ, nét nghĩa nào là chủ đạo? Vậy bài thơ này có nét nghĩa ẩn dụ gì không? Theo tôi nghĩ là có…Và ông giải thích vấn đề rất dài dòng, lòng vòng (là, hay là, nôm na là, thì là, Thế nghĩa là, không phải là) có lẽ ông nghĩ công chúng không có trình độ hiểu cụm từ “nghĩa hiển ngôn”là gì!
Đối thoại với công chúng, sử dụng ngôn ngữ gần với công chúng là đúng, nhưng văn bản viết, nhất định phải có “chất văn”, dù là văn bản phê bình văn học. Bài viết của Vũ Bình Lục còn thiều phẩm chất căn bản này.
Trong phương pháp đọc thơ của Vũ Bình Lục, ông diễn xuôi nghĩa câu thơ là chính, sau đó mặc sức phóng bút, tưởng tượng ra tầng nghĩa mà văn bản thơ không có, để rồi thả mình vào thế giới do mình tưởng tượng ra, hưởng thụ cái hương sắc ngọt mật của bài thơ (mặc dù tất cả chỉ là tưởng tượng). Ông bình thơ một cách cảm tính và áp đặt, không dựa trên bất cứ lý thuyết phê bình văn học nào. Đây là đoạn hoàn toàn tưởng tượng:
“Hình dung như một buồng the kín đáo, người đẹp trẻ trung, rưng rức mầu xuân rờ rỡ đang hiển hiện ở trước mắt. Nhất là từ khi bén được hơi xuân rồi, thì vẻ xuân, mầu xuân từ thân thể tuyệt mĩ của người đẹp càng như mơn mởn thêm ra. Này, hỡi chàng gió đa tình, hãy đến gần ngay đây để từ từ, nhẩn nha, nhẹ nhàng (gượng) mà mở ra xem, mà thưởng thức, chiêm ngưỡng cái thân thể ngọc ngà còn phong kín này! Giục giã, mời gọi, nhưng không hề thấy sự vội vã, gấp gáp…”
Vũ Bình Lục phải tưởng tượng vỉ ông bất lực trong việc giải mã bài thơ. Nguyễn Trãi tả thực hay bài thơ có nghĩa ẩn dụ? và ông dè dặt: Vậy bài thơ này có nét nghĩa ẩn dụ gì không? Theo tôi nghĩ là có. Vũ Bình Lục nghĩ là bài thơ Cây Chuối có nghĩa ẩn dụ Nhưng ông không đưa ra được cơ sở khoa học nào để xác lập nghĩa ẩn dụ, và Nguyễn Trãi dùng ẩn dụ để nói gì. Trong khi trước đó ông khẳng định: “nói đến nét nghĩa ẩn dụ (nếu có), thì trước hết và bao giờ cũng phải là nghĩa hiển ngôn, hay là nghĩa tường minh, nôm na là nghĩa đen, nghĩa cụ thể, hiện ra trên mặt chữ của bài thơ Đương nhiên, nghĩa cụ thể ở đây là tả cây chuối, theo đó là cả buồng chuối, cùng với vẻ đẹp và mùi thơm độc đáo, hấp dẫn mê hồn của nó.”
Và vì hiểu đây là bài thơ “tả thực” cây chuối nên ông mới bế tắc trong khi giải nghĩa. Ta thấy Vũ Bình Lục loay hoay mãi mà không thoát ra được cái lưới ông tung ra lại quấn lấy chính ông:
“Đầy buồng lạ màu thâu đêm thì là tả buồng chuối với một sự rất lạ, màu thâu đêm. Mùi thơm (mầu) thơm lạ thơm lùng của buồng chuối toả ra thơm nức cả một vùng trong đêm thanh vắng hay chăng? Thế nghĩa là chuối đã chín ngay từ khi còn treo ở trên cây rồi. Chuối đã chín trên cây, lại còn:
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu gượng mở xem
thì ý thơ đã chuyển sang tả lá chuối, xanh non, cuộn tròn như một bức tư tình còn phong kín.
…ta thấy, nếu như tả cây chuối ở cùng một thời điểm, thì rõ ràng là ta đã thấy một sự mâu thuẫn. Cây chuối đã ra buồng, mà buồng chuối đã chín mọng, dịu dàng thơm lạ thơm lùng, thì tức là cây chuối đã già, già hết cỡ, đâu phải là cây chuối còn non tơ nữa? Lá chuối cuộn tròn như bức tình thư, mời gọi tình nhân gió xuân đến mở ra xem thì hẳn là chuối đang tơ. Chuối đang tơ thì đương nhiên không thể ra buồng. Một sự mâu thuẫn mười mươi, phải hiểu như thế nào đây?
Ba Tiêu (Cây Chuối) là bài thơ thể “vịnh cảnh vật”, không phải là thơ tả cảnh vật. Sự khác biệt là ở chỗ, nếu là thơ tả cảnh vật thì bài thơ là một bức tranh, thống nhất góc nhìn, thống thất thời gian, không gian và thống nhất tâm trạng tác giả gửi trong cảnh. Đã là tả cảnh thì bức tranh phải theo luật về bố cục, về màu sắc, ánh sáng về bút pháp…Thơ “vịnh” không theo luật của thơ tả cảnh vật. Tác giả viết về cảnh vật, chọn những chi tiết tiêu biểu của cảnh rồi lắp ghép lại theo chủ đề hoặc cảm nghĩ về cảnh vật. Vì thế, mặc dù trong thơ vịnh cảnh, hình ảnh sự vật hiện lên rõ, nhưng suy nghĩ và tâm trạng nhà thơ thể hiện trong cảnh mới là cái căn cốt của bài thơ. Nếu đem những chi tiết của cảnh vật trong bài thơ vịnh ghép lại làm thành một bức tranh, sẽ hoàn toàn trái với luật của thơ tả cảnh, điều mà Vũ Bình Lục cho là một sự mâu thuẫn mười mươi, phải hiểu như thế nào đây? Trong bài Cây Chuối, Vũ Bình Lộc đã nhầm lẫn tình ý của Nguyễn Trãi với nghĩa ẩn dụ về cây chuối. Bài thơ không có nghĩa ẩn dụ, vì nếu có thì cây chuối là ẩn nghĩa của cái gì, của người nào, việc gì? Vì lầm tưởng là ẩn dụ nên Vũ Bình Lục tán ra ngoài văn bản bài thơ, sai hẳn với ý nghĩa thực của bài thơ.
Thực ra ý nghĩa của bài thơ không có gì khó hiểu cả. Chuối là loại cây vườn ở thôn quê nhà nào cũng có. Đây là loại cây dễ mọc và thường xanh tốt. Nguyễn Trãi chọn hai hình ảnh rất đặc trưng của cây chuối để ghi lại và qua đó nói cái suy nghĩ của mình về cây chuối.
Từ bén hơi xuân tốt lại thêm,
Đầy buồng lạ màu thâu đêm.
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu gượng mở xem
Hai chi tiết đó là buồng chuối thơm lạ lùng và lá chuối lúc còn non thì như bức thư tình cuộn lại chờ gió mở xem. Đặc sắc của bài thơ là thái độ chọn lựa và khám phá đề tài của Nguyễn Trãi. Ông chọn cây chuối làm đề tài vì chuối vừa gần gũi vừa dân dã, khác hẳn với đề tài về cây tùng, cây cúc, cây liễu thường có trong thơ chữ Hán ảnh hưởng thơ Trung Quốc hoặc cây tre, cây trúc, cây cau, cây đa trong ca dao. Tài năng của Nguyễn Trãi là ở sự khám phá và thể hiện “cái đẹp”, tức là cái thẩm mỹ của đề tài. Hương thơm của buồng chuối thơm lừng trong đêm, còn ban ngày, lá chuối non cuốn lại như tình thư còn e ấp.
Bao nhiêu người ở thôn quê đã phát hiện được điều này như Nguyễn Trãi? Nó rất thực nhưng cũng thật lãng mạn. Nguyễn Trãi rất dân dã nhưng cũng rất nho nhã. Và dù có bận việc, ông vẫn đắm hồn với cảnh vật. Ông ngồi đó, ngày cũng như đêm, có lẽ gần với một khóm chuối hay vườn chuối, và bỗng nhận ra vẻ đẹp của chuối. Ông muốn nói về vẻ đẹp ấy, khác hoàn toàn với người nông dân trồng chuối là để mau có trái ăn (Trẻ trồng na, già trồng chuối). Trồng chuối vừa có trái ăn, vửa có lá gói bánh. Thân chuối bóc thành bẹ, chẻ thành dây, hoặc thái trộn với cám cho heo ăn. Trẻ con dùng thân chuối làm phao tập bơi. Củ chuối luộc ăn cứu đói, hoặc củ chuối nấu với ốc, ăn bún thì rất tuyệt (món bún ốc)…Cái nhìn của người nông dân về câu chuối là cái nhìn thực dụng như thế.
Nguyễn Trãi gần gũi với người dân nhưng khác người dân ở cái nhìn cây chuối, vì ông nhìn cây chuối với hồn thơ sâu đậm Việt tính. Bài thơ Cây Chuối gây ám ảnh nghệ thuật là vậy. Ông không tả cây chuối với ám ảnh tình dục của Freud như một người đàn ông khám phá và hưởng thụ trên thân xác một người đàn bà như Vũ Bình Lục đã viết: “buồng the kín đáo, người đẹp trẻ trung, rưng rức mầu xuân rờ rỡ đang hiển hiện ở trước mắt… chàng…, hãy đến gần ngay đây để từ từ, nhẩn nha, nhẹ nhàng (gượng) mà mở ra xem, mà thưởng thức, chiêm ngưỡng cái thân thể ngọc ngà còn phong kín này!…”
Như vậy hạn chế của Vũ Bình Lục trong việc đọc thơ là ở chỗ không khám phá được cấu trúc thơ, thể loại thơ, mã ngôn ngữ, mã văn hóa trong bài thơ. Vũ Bình Lục chỉ dùng trực giác cảm tính, rằng “theo tôi nghĩ…” mà không dùng một phương pháp có tính khoa học bóc tách cấu trúc nghệ thuật của tác phảm, sau đó giải cấu trúc để tìm nghĩa liên văn bản đặt trong “cộng đồng diễn dịch”, cộng đồng văn hóa Việt.
Xin thử đọc thêm một bài viết nữa của Vũ Bình Lục về thơ đương đại, bài Mắt Buồn của Bùi Giáng
MẮT BUỒN
Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
(Nguyễn Du)
Bóng mây trời cũ hao mòn
Chiêm bao náo động riêng còn hai tay
Tấm thân với mảnh hình hài
Tấm thân thể với canh dài bão giông
Cá khe nước cõng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một Giêng
Tạ từ tháng Chạp quay nghiêng
Ấn trang sử lịch thu triền miên trôi
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu, bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con.
Xin đọc một đoạn Vũ Bình Lục viết:
“Đọc Bùi Giáng thi thoảng thấy có câu lạ, thi thoảng lại thấy có câu hay, chứ bài hay thì quả tình quá hiếm hoi. Rất nhiều những câu thơ “dở hơi”, lằng nhằng khó gặm. Lại còn nhiều câu lục bát lạc vần, như thể cố tình chống lại các quy tắc của thể thơ này…Nhìn chung là đọc không vào, thành ra không thích. Hỏi một số bạn bè, họ cũng nghĩ tương tự như thế! Vậy mà tại sao một thi sỹ có nhiều ý kiến trái chiều, đến nay lại được nhắc nhiều trên mặt báo, như một “kỳ nhân”, như một vị khách vãng lai ở cõi người, mà chưa rõ tung tích?
Bài thơ “Mắt buồn” của Bùi Giáng được chọn tuyển vào tập “Ngàn năm thơ Việt” (NXB Văn Học-2010), có lẽ là một trong những bài thơ tiêu biểu cho vẻ thơ độc đáo của ông chăng?
“Bóng mây trời cũ hao mòn
Chiêm bao náo động riêng còn hai tay
Tấm thân với mảnh hình hài
Tấm thân thể với canh dài bão giông”…
Đó là đoạn mở đầu bài thơ “Mắt buồn”. Có lẽ đây là bài thơ Bùi Giáng viết khi ông đã bóng ngả về chiều, tất cả đã qua đi, chỉ còn lại đôi tay và “tấm thân với mảnh hình hài”, cụ thể hơn nữa là “Tấm thân thể với canh dài bão giông”!...
Kết thúc bài “Mắt buồn”, Bùi Giáng...
“...Bỏ lại tất cả, một cách dứt khoát, để bước sang một thế giới khác, thế giới của cô đơn:
“Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con”
Đấy chính là một sự đối diện nghiệt ngã và cay đắng. Đối diện với chính mình, “còn hai con mắt khóc người một con”. Một thực thể “tôi” còn đủ “hai con mắt”, xót thương “khóc người một con”(mắt) chăng? Vậy thì người một con mắt ấy là ai? Là cái hình hài đang đối diện với nhà thơ chăng? Hoá ra, cả cái quãng đời xưa ấy, cái hình hài kia chỉ sống hoặc là tồn tại chỉ bằng một con mắt, hay chỉ nhìn đời bằng một con mắt chăng? Quả là một ý thơ chứa nhiều sắc độ, biến ảo khôn lường, thực hư hỗn mang. Bùi Giáng từng nói rằng ông điên trong sự tỉnh. Câu thơ kết thúc bài “Mắt buồn”, có thể là một câu thơ điên trong tỉnh của Bùi Giáng chăng? Một vẻ điên triết học chăng?
…Đọc thơ Bùi Giáng, như thấy một chút Thiền, một chút Tiên, một chút Điên, lại phảng phất cái bí hiểm gián cách kiêủ “Xuân Thu Nhã Tập”. Điệu thơ Bùi Giáng hình như không hợp khẩu vị tầng lớp bình dân…”
Sau đây là Comment của một bạn đọc khi đọc bài viết của Vũ Bình Lục:
Chào Ông VŨ BÌNH LỤC,
Nếu Ông không biết gì về Nhà thơ Bùi Giáng và xuất xứ của Bài thơ Mắt buồn thì đừng có nói lung tung. Mà tui thấy Ông cũng siêng thiệt, không biết mà cũng bày đặt bình luận dài ơi là dài. Ở miền Nam người ta hay nói "Nói dài nói dai nói dỡ" nhưng mà ở đây Ông lại nói bậy mới chớ!!!!!.
Nhà thơ Bùi Giáng sáng tác bài Mắt buồn vào khỏang năm 1959 - lúc đó nhà thơ khỏang 33 tuổi, làm gì có cái chuyện "Bùi Giáng viết khi ông đã bóng ngả về chiều".
Bài thơ này Bùi Giáng viết về Bà Công Thị Nghĩa tức hoa hậu Thu Trang đọat giải hoa hậu tại Sài Gòn lúc năm 1956. Sau đó Thu Trang có con với đạo diễn Tống Công Hạp (nhưng Hạp đã có vợ) - Thu Trang rất buồn về chuyện này.
Bùi Giáng rất mê hoa hậu Thu Trang, Ông đã làm bài thơ Mắt buồn nói về Thu Trang. Câu thơ: "Còn hai con mắt khóc người một con".
Ý muốn nói Bùi Giáng đã khóc bằng hai con mắt cho Người có một đứa con (Người một con hay Gái một con...).
Chứ làm gì có chuyện: """""Đấy chính là một sự đối diện nghiệt ngã và cay đắng. Đối diện với chính mình, “còn hai con mắt khóc người một con”. Một thực thể “tôi” còn đủ “hai con mắt”, xót thương “khóc người một con”(mắt) chăng? Vậy thì người một con mắt ấy là ai?......"""""
Khùng hết hết chỗ nói cái Ông Vũ lục bình !!!!!
HTP-Sài Gòn [4]
Lời bình của bạn đọc là quá đủ về những gì Vũ Bình Lục viết về bài thơ của Bùi Giáng. Tôi xin không viết thêm, chỉ xin chia sẻ với nhà phê bình đôi điều. Vũ Bình Lục không nắm được “thi pháp” thơ Bùi Giáng, nên không khám phá được thế giới nghệ thuật của thi sĩ. Ông chỉ diễn thành văn xuôi nghĩa đen của câu thơ một cách trơn tuột, rồi nhân đó “tán” ra, không tiếc lời, theo cảm nghĩ rất chủ quan. Những gì ông tán đều nằm ngoài văn bản bài thơ, nên đọc không vào, thành ra không thích. Nói cách khác, Vũ Bình Lục không có khả năng thâm nhập được vào bên trong cấu trúc nghệ thuật của bài thơ, lại cũng không thoát ra khỏi cách đọc thơ theo quán tính trong nhà trường (tìm nghĩa phản ánh hiện thực, nghĩa tư tưởng vv…) nên mới lâm vào tình trạng hiểu sai câu thơ: “Bây giờ riêng đối diện tôi/ Còn hai con mắt khóc người một con”: Một thực thể “tôi” còn đủ “hai con mắt”, xót thương “khóc người một con”(mắt) chăng? Vậy thì người một con mắt ấy là ai? Là cái hình hài đang đối diện với nhà thơ chăng?”
4.Biết nói gì thêm?
Vũ Bình Lục chỉ là tác giả phong trào, viết phê bình theo quán tính. Không có lý luận, cũng không thủ đắc một phương pháp phê bình có cơ sở khoa học. Có thể là ông chưa tiếp cận được với các lý thuyết văn học đương đại. Những gì ngòi bút ông tung tẩy vẫn nằm trong cách viết phê bình đã thành “truyền thống” trong nhà trường, trong sinh hoạt văn nghệ và cả trên báo chí một thời đã xa. Vì thế, khi tiếp cận với những kiểu tư duy nghệ thuật khác với thơ Xã hội chủ nghĩa, (như bài Cây Chuối và bài Mắt Buồn-đã dẫn) ông không có khả năng thâm nhập tác phẩm. Bởi cấu trúc tác phẩm như một tòa lâu đài kiên cố, đứng ngoài ông thấy thấp thoáng cái đẹp, song không sao vào được bên trong để khám phá những cái mới lạ. Văn phê bình của ông thiếu chất văn chương, có lẽ ông cho rằng rằng viết cho công, nông, binh là phải viết thật chân chất, nôm na thư thể “Áo anh rách vai/ Quần tôi có vài miếng vá” (Đồng Chí-Chính Hữu).
Dù sao những nỗ lực của ông đóng góp cho đời sống văn học Việt Nam cũng rất đáng trân trọng. Bởi nó xuất phát từ cái tâm, từ tấm lòng của một người lính, của một nhà giáo, của một người đã gắn bó với cuộc sống lao động và chiến đấu cùng với dân tộc. Hạn chế ngòi viết phê bình của ông là do thời đại và hoàn cảnh sống.
Kính chúc ông luôn dồi dào sức lực trong nghiên cứu và sáng tác.
Tháng 2. 2017
Nguồn: Bùi Công Thuấn-Phê bình văn học-Diện mạo của một thời
___________________________
[1] Vũ Đình Ân-Trò truyện với nhà văn thương binh Vũ Bình Lục:
http://baodansinh.vn/tro-chuyen-voi-nha-van-thuong-binh-vu-binh-luc-d29718.html
[2] http://www.phattuvietnam.net/van-hoa/gioi-thieu-sach/25691-v%C5%A9-b%C3%ACnh-l%E1%BB%A5c-%C4%91i-t%C3%ACm-h%E1%BB%93n-thi%E1%BB%81n-trong-th%C6%A1-l%C3%BD-tr%E1%BA%A7n.html
[3] www.nhandan.com.vn/xahoi/tin-tuc/item/21383002-.html+&cd=13&hl=vi&ct=clnk&gl=vn
[4] http://diendan.vtcgame.vn/showthread.php?1468365-Tac-gia-BUI-GIANG-con-hai-con-mat-khoc-nguoi-mot-con
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhà phê bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhà phê bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 2 tháng 3, 2017
TRẦN THANH ĐẠM Và “lý thuyết”: Tác phẩm văn học như một đơn vị ngôn từ.
TRẦN THANH ĐẠM
Và “lý thuyết”: Tác phẩm văn học như một đơn vị ngôn từ.
Bùi Công Thuấn
PGS-NGND Trần Thanh Đạm (1932-2015) quê ở xã Lộc Thủy, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông từng là giảng viên khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, trưởng Bộ môn Văn học nước ngoài Khoa Ngữ văn và Báo chí Trường Đại học tổng hợp TPHCM. Ngoài ra, ông còn là Uỷ viên Hội đồng Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật Trung ương, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh và nguyên phó viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục.
Ông đã xuất bản:
-Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể (1968),
-Tục ngữ và vấn đề nguồn gốc văn chương,
-Dẫn luận văn học so sánh,
-Sự chuyển tiếp của văn chương Việt Nam sang thời kỳ hiện đại.
Cùng với Phạm Thị Hảo dịch tác phẩm:
- Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp (xuất bản năm 2007)
Viết chung các tác phẩm như:
-Trích giảng văn học lớp mười phổ thông (1964),
-Giảng dạy văn học Việt Nam (phần cổ điển và cận đại) ở trường phổ thông cấp ba (1966),
-Văn học và cuộc sống: Tập lý luận - phê bình văn học (1996)…
Tôi đã định không viết về ông, vì số lượng bài viết của ông về văn học không nhiều và chưa đủ hình thành một khuôn mặt riêng. Nhưng rồi đọc bài ông viết, tôi thấy hiện ra ở ông bóng dáng một kiểu nhà phê bình văn học ờ Việt Nam trước giai đọan đổi mới (1986), vì thế tôi ghi vài dòng về đặc điểm của kiểu nhà phê bình này, góp thêm vào diện mạo chung.
1.Nhà phê bình Marxist giáo khoa thư.
Trần Thanh Đạm là kiểu nhà phê bình Marxist giáo khoa thư vì lập trường phê bình của ông là quan điểm chủ nghĩa Marx-Lênin về văn học, và cách viết của ông là cách viết như trong sách giáo khoa.
Xin đọc một đoạn:
“Câu hỏi: rốt cục văn học là gì?...
…Chúng tôi xem văn học sinh ra từ ngôn ngữ. Trong thời kỳ đầu, loài người chỉ có ngôn ngữ thôi. Ngôn ngữ cùng với lao động sinh ra con người. Ban đầu con người giao tiếp bằng ngôn ngữ tự nhiên. Trong giao tiếp, dần dần nhận ra ngôn ngữ có sức mạnh. Họ tin vào sức mạnh này. Từ đó sinh ra những câu thần chú. Hay như lời ru con của mẹ, lời dỗ dành người thương. Khi đó, con người mong mỏi dùng sức mạnh của ngôn ngữ để tác động vào nhau, chứ không đơn thuần chỉ để hiểu nhau. Tác động về tâm lý, tình cảm. Từ đó sinh ra lời chúc phúc và lời nguyền rủa. Trong yếu tố gốc hình thành nên các từ này đều có nghĩa là lời nói (benediction, malediction) - tốt hay xấu nhằm cầu mong điều tốt lành hoặc mong mỏi điều ác độc đối với một ai đó, tuỳ vào mối thiện cảm hay ác cảm của mình với họ. Ở ta có câu lời nói là một đọi máu là thế. Lời nói như hoa gấm, lời nói như gươm dao. Như vậy lời nói có tác động tinh thần mạnh mẽ như là một sức mạnh vật chất. Nhưng, nếu xét kỹ, lời nói chính là vật chất chứ không đơn thuần là tinh thần”(Tác phẩm văn học như một đơn vị ngôn từ)
Xin đối chiếu với đoạn văn giải thích nguồn gốc văn học trong giáo trình Lý luận văn học của Lê Lưu Oanh và Phạm Đăng Dư (Đại học Sư phạm Hà Nội-Nxb ĐHSP Hà Nội 2008):
“Chủ nghĩa Mác cho rằng, điều kiện ra đời của văn học trước hết gắn liền với sự hoàn
thiện của chủ thể sáng tạo ra nó là con người. Quá trình lao động đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện con người. Chính lao động đã góp phần làm cho đôi tay con người ngày càng phát triển, trở nên linh hoạt khéo léo, các giác quan con người ngày càng phát triển và hình thành ngày càng rõ nét những cảm xúc thẩm mĩ. Đó là quá trình làm cho con người có năng lực cảm thụ cái đẹp của khách quan và có năng lực sáng tạo ra văn học nghệ thuật.
Nhờ có lao động, con người như một chủ thể thẩm mĩ có khả năng hiểu biết, thưởng thức và sáng tạo cái đẹp dần dần xuất hiện. Một số quy luật của cái đẹp tự nhiên được nhận thức trong quá tr.nh lao động, chiếm lĩnh đời sống…”
Phần giải thích của Trần Thanh Đạm có pha tạp nhiều nguồn thành ra kém thuyết phục so với giáo trình Lý luận văn học của Lê Lưu Oanh-Phạm Đăng Dư. Những cách giải thích nguồn gốc văn học như thế ngày nay đã thành “cổ điển’ và không còn thuyết phục nữa.
2.Nhà phê bình-Người chiến sĩ
Trong Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam đồng chí Trường Chinh có nêu lên rằng: "Không có phê bình, không có luận chiến phong trào văn nghệ nước ta êm đềm quá, trầm mặc quá. Nó khác nào con ngựa đi bước một, rũ cổ xuống đất, thiếu một cái roi phê bình quất cho nó lồng lên”. Nói phê bình là cái roi ngựa là nói tính chiến đấu của nhà phê bình.
Trong bài Một sai lầm thế kỷ trong lý luận phê bình văn học (2004),[1] Trần Thanh Đạm đã “vung roi quất” rất mạnh vào tất cả trào lưu lý luận và phê bình văn học đương đại phương Tây, Ông viết:
“Xu hướng lý luận, phê bình cũng như sáng tác phương Tây khởi đầu với Chủ nghĩa hình thức, đi vào Chủ nghĩa cấu trúc, Chủ nghĩa hậu cấu trúc, chủ nghĩa hiện đại, Hậu hiện đại rồi nhiều các trường phái khác: tiểu thuyết mới, phê bình mới, văn học phi lý, văn học suy đồi, thi ca vụt hiện, thi ca rú rít như con thú, cùng mọi thứ quái thai khác, chung quy đều xuất phát từ quan niệm văn học chỉ là nghệ thuật ngôn ngữ (language exercise, literary craft) biến ngôn ngữ thành một trò chơi, trò ảo thuật, áp dụng cái công thức của Chủ nghĩa hình thức Nga mà chính tác giả của nó là Chklovski đã từ bỏ, đó là “Nghệ thuật như là thủ thuật”, loại bỏ nội dung, ý nghĩa, tư tưởng, nhận thức, tri thức, lương tâm, lương tri, v.v…ra ngoài văn học, làm cho văn học trở thành văn học không có con người, văn học phi nhân, vô luân, vô thức, v.v… Thứ văn học này bắt đầu bằng Chủ nghĩa hình thức và giá trị cao nhất của nó là chủ nghĩa duy mỹ.
… Khi nó chỉ là nó thì nó trở thành vô nghĩa, điên rồ cũng đúng thôi, bởi vì một nền văn học tuyên ngôn coi khinh ý nghĩa (meaning) thì còn có ý nghĩa gì nữa. Nếu nó không còn có ý nghĩa gì cả, chỉ tồn tại thôi, thì “tồn tại hay không tồn tại” đó là một vấn đề. Nói chung, văn học mà không có ý nghĩa thì sự tồn tại cũng như không tồn tại.”
Đọc đoạn văn trên, người ta thấy Trần Thanh Đạm tỏ ra hiểu chưa thấu đáo về các trào lưu lý luận văn học phương Tây thế kỷ XX. Ông phê phán kịch liệt Chủ nghỉa Hình thức Nga với T. Todorov và R. Jakobson; sau đó là tất cả các lý thuyết đương đại. Ông “vơ đũa cả nắm” và cho rằng các lý thuyết văn học ấy “làm cho văn học trở thành văn học không có con người, văn học phi nhân, vô luân, vô thức… Khi nó chỉ là nó thì nó trở thành vô nghĩa, điên rồ cũng đúng thôi, bởi vì một nền văn học tuyên ngôn coi khinh ý nghĩa (meaning) thì còn có ý nghĩa gì nữa”.
Thụy Khuê dẫn lời của Eichenbaum khẳng định rằng Trường phái Hình thức Nga chủ trương hình thức chính là nội dung, không tách biệt:” "Khái niệm hình thức từ nay, đã có một ý nghiã mới, nó không còn là cái vỏ, là cái bình đựng nội dung nữa mà là một toàn bộ năng động và cụ thể có nội dung của nó, mà không cần một quan hệ hỗ tương kiểu bình và nước”[2].
Trần Thanh Đạm cũng ngộ nhận về “chủ nghĩa hiện đại” như một hệ thống lý thuyết về văn học. Thực ra chủ nghĩa Hiện đại là một khái niệm chỉ một loạt những trào lưu nghệ thuật khác nhau đầu thế kỷ XX đến những năm 1970. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cho biết:“các nhà phê bình Xô Viết liệt vào "chủ nghĩa hiện đại" và phê phán hàng loạt hiện tượng, nhóm phái trong văn nghệ các nước phương Tây suốt thế kỷ XX, từ chủ nghĩa tiền phong (avant-gardisme), các nhóm phái đađa (dadaisme), lập thể (cubisme), vị lai (futurisme), ấn tượng (impressionnisme), tượng trưng (symbolisme), siêu thực (surrealisme), biểu hiện (expressionisme), hình tượng (imaginisme) và hàng loạt hiện tượng văn nghệ khác, xuất hiện trước và sau thế chiến I (1914 - 18), tiếp theo là văn học phi lý, chủ nghĩa hiện sinh, tiểu thuyết mới, "pop-art" và nhiều hiện tượng khác trong văn nghệ phương Tây từ sau thế chiến II (1939 - 45) đến những năm 1970.
Bên cạnh đó, những phát hiện nghệ thuật ở văn học cuối thế kỷ XIX - đầu XX như "dòng ý thức", "độc thoại nội tâm", sáng tác huyền thoại, sân khấu phi lý, các thủ pháp "dán ghép" (collage), lắp dựng (montage), v.v... - đều được "tính" cho chủ nghĩa hiện đại.”[3]
Thái độ phê phán của Trần Thanh Đạm với “chủ nghĩa hiện đại “ không khác gì ở Liên xô trước đây. Lại Nguyên Ân cho biết: “Về căn bản, đây là lập trường của tuyến bảo thủ trong văn hóa truyền thống xét theo thái độ đối với tất cả những gì mang tính cách tân; ở khoa học Xô Viết, lập trường ấy trước hết bị quy định bởi các định hướng tư tưởng đảng tính, giai cấp tính. Tiền phong (avant-grad) cũng như chủ nghĩa hiện đại, ít khi là đối tượng của sự phân tích khoa học, nhưng thường khi lại là đối tượng của một sự phê phán trùm lớp, không cần có căn cứ xác đáng.”[Lại Nguyên Ân-đd]
Tính chiến đấu của “người chiến sĩ” Trần Thanh Đạm còn mạnh mẽ hơn nhiều khi ông trực diện phê phán những luận điểm có tính cởi mở trong bài phát biểu Vươn tới những thành tựu lý luận mang tính khoa học và nhân văn của ông Nguyễn Khoa Điềm- Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tư tưởng và Văn hoá Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương- đọc trong Hội thảo khoa học Lý luận văn học trước yêu cầu đổi mới và phát triển tại Viện Văn học (Hà Nội) ngày 25.11.2004, [4]. Người ta ngạc nhiên khi thấy Trần Thanh Đạm chỉ gọi đồng chí Nguyễn Khoa Điềm bằng một từ trống không là “diễn giả” mà không gọi bằng danh xưng của một người lãnh đạo văn nghệ trung ương. Càng ngạc nhiên hơn ở khi Trần Thanh Đạm tỏ ra “đứng cao hơn” Nguyễn Khoa Điềm: “Tôi cho rằng lý giải các yếu kém thiếu hụt của lý luận văn học chúng ta như diễn giả đã làm là có phần hời hợt, sơ lược, chủ quan, không trên cơ sở một nhận thức lịch sử thật chu đáo, thận trọng”… Bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Khoa Điềm, trong giới hạn và mức độ của nó… Tư duy, nhận thức của một người dù ở cương vị lãnh đạo đi nữa cũng có hạn…”
Lúc đầu Trần Thanh Đạm tỏ ra đồng thuận với phát biểu của Nguyễn Khoa Điềm rằng: “diễn giả đã có những nhận định theo tôi là xác đáng, cần thiết trong tình hình lĩnh vực lý luận văn học còn bề bộn ngổn ngang hiện nay”; “Diễn giả cũng có những nhận định lạc quan một cách đúng đắn đối với “thực tiễn văn học” ấy. Đây là thực tiễn văn học Việt Nam, trước hết là tình hình sáng tác của văn học hiện đại và đương đại”; “Không những khẳng định văn học Việt Nam hiện đại, đồng chí còn khẳng định văn học Việt Nam truyền thống”; “Nhất quán với quan điểm của mình, xem thực tiễn văn học là khởi nguồn của lý luận văn học, diễn giả cũng khẳng định mạnh mẽ nền lý luận văn học dân tộc”; “Ở đây cũng như ở các lĩnh vực khác, cần bảo vệ các thành tựu và các giá trị tích cực của dân tộc và cách mạng để ra sức đổi mới chúng, không bảo vệ các thành tựu đó thì nói đổi mới là đổi mới cái gì? Không thể như một vài người hô hào: làm lại từ đầu, xây lại từ móng. Nghĩa là lật đổ tất cả để làm lại tất cả. Chúng ta chắc ai cũng thấy được cái gì đằng sau những lời hô hào “đổi mới” như vậy”…
Sau những rào đón, che chắn và đồng thuận với “diễn giả” cho có, cho phải đạo, Trần Thanh Đạm trở giọng công kích mãnh liệt nhiều luận điểm của Nguyễn Khoa Điềm về những vấn đề như: “lý giải những mặt yếu của lý luận văn học chúng ta”; “vấn đề quan hệ giữa nội dung và hình thức”; “vấn đề quan hệ giữa chủ quan của nghệ sĩ và thực tại khách quan”; “vấn đề giữa sáng tác và tiếp nhận”; “Vấn đề quan hệ giữa văn nghệ và chính trị…” và đặc biệt là những nhận định của Nguyễn Khoa Điềm về những đổi mới nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp. Trần Thanh Đạm cho rằng Nguyễn Khoa Điềm “chưa nhận thức rõ về mặt lý luận cũng như thực tiễn…nên có ý muốn che chắn cho Nguyễn Huy Thiệp. Ông viết:
“Có lẽ do chưa nhận thức rõ về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong truyền thống của chúng ta nên diễn giả đã tiếp cận các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp một cách siêu hình, tách rời máy móc nội dung và hình thức. Ông nói rằng: “Tôi rất mừng khi nhận thấy những dấu hiệu đổi mới về ngôn ngữ nghệ thuật ở sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Có người đã nói anh Thiệp đã viết những điều trước nay chưa ai viết. Tôi thấy điều ấy không quan trọng lắm. Về mặt nội dung, có những điều anh Thiệp sai, nhưng về mặt đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật thì anh Thiệp lại là người có nhiều đóng góp. Đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật là một vấn đề vô cùng quan trọng và cần thiết, không đơn giản là nội dung quyết định hình thức như lâu nay ta thường nói. Ở vào thời điểm mang tính chuyển đổi thì nhiều lúc hình thức lại mang tính cách mạng của nó”.
Không cần phải là nhà lý luận uyên thâm gì cũng có thể thấy nhận định của tác giả về Nguyễn Huy Thiệp là không chính xác, là tách rời nội dung với hình thức, tách rời ngôn ngữ nghệ thuật với tư tưởng nghệ thuật. Tôi cho rằng cả những người thích Nguyễn Huy Thiệp lẫn những người không thích đều thấy rõ cái điều gây scandale của nhà văn này trước hết là ở nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của anh phục vụ cho nội dung tư tưởng đó. Sự “đổi mới” của Nguyễn Huy Thiệp là trên cả hai phương diện chứ không thể nói: nội dung sai, không quan trọng mà lại có đóng góp về ngôn ngữ nghệ thuật….Ở Nguyễn Huy Thiệp, mặt sáng cũng như mặt tối, mặt đóng góp cũng như mặt phá hoại đều trên cả hai phương diện: nội dung và hình thức, tư tưởng và nghệ thuật, không thể phê phán cái này mà khẳng định cái kia. Cái mà diễn giả gọi là “tư duy biện chứng” không hề thấy ở đây. Không nói đến chuyện trong khi một số nhà văn, nhà phê bình lên án những ngôn luận xằng bậy của anh Thiệp đối với các văn hữu của mình trong Hội nhà văn Việt Nam thông qua các bài như: Trò chuyện với hoa thủy tiên, Mổ nhà văn, Tuổi 20 yêu dấu v.v… thậm chí xúc phạm đến cuộc kháng chiến của dân tộc, thì đồng chí Nguyễn Khoa Điềm hình như có ý muốn che chắn cho Nguyễn Huy Thiệp để tỏ ra mình “không can thiệp thô bạo vào các cuộc tranh luận học thuật” (!).
Quả là xưa nay chưa thấy một “nhà phê bình” nào dám công khai đánh giá về một Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tư tưởng và Văn hoá Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương là: “chưa nhận thức rõ về mặt lý luận cũng như thực tiễn… và có ý muốn che chắn cho Nguyễn Huy Thiệp, một nhà văn xúc phạm đến cuộc kháng chiến của dân tộc”
Sở dĩ Trần Thanh Đạm “mạnh dạn trao đổi” với Nguyễn Khoa Điềm như vậy, vì ông đứng trên lập truờng chính trị để lý giải mọi vấn đề. Ông viết:
“Đúng là lý luận văn học của chúng ta trước đây chịu ảnh hưởng của các thành tựu lý luận văn học từ các nước Xã hội chủ nghĩa anh em (trước hết là Liên Xô). Phải nói rằng đó là lý luận văn học của chủ nghĩa Mác – Lênin, của Chủ nghĩa xã hội trải qua gần 100 năm đấu tranh và xây dựng với nhiều thành tựu quan trọng và dĩ nhiên với những vấn đề tồn tại…Nền lý luận văn học cũng như toàn bộ nền văn học của chúng ta chủ yếu sản sinh từ thực tiễn văn học của chúng ta... Nó được sản sinh ra từ đường lối lý luận và thực tiễn của cách mạng dân tộc, dân chủ và xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ 1930 và sớm hơn, từ đầu thế kỷ 20, thể hiện trong các văn kiện của Đảng: Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, qua các đại hội văn nghệ và đại hội nhà văn, các tác phẩm lý luận phê bình của các nhà văn, nhà thơ lớn của chúng ta trong thế kỷ 20 như: Hải Triều, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh… và các nhà lý luận ưu tú khác của chúng ta…”
…”Đối với các vấn đề này, chính thống mà nói chúng ta phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, làm kim chỉ nam cho lý luận văn học. Chúng ta có thể chấp nhận và tiếp thu rộng rãi các quan điểm lý luận văn học phi Macxit nếu nó có hạt nhân hợp lý có thể giúp vào việc làm giàu, mở rộng và phát triển lý luận của chúng ta, bởi vì lý luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn “nhịp bước cùng thời đại, cùng cách mạng, cùng khoa học, không phải là một mớ giáo điều”.
Những tư tưởng trong các nhận định trên của Trần Thanh Đạm, người đọc có thể gặp trong bất cứ văn kiện chính trị nào của Đảng. Thí dụ luận điểm: ”chúng ta phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, làm kim chỉ nam cho lý luận văn học”. Xin đối chiếu với Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị “về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học,nghệ thuật trong thời kỳ mới”:“…Trên nền tảng mỹ học mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh, khuyến khích văn nghệ sĩ bám sát thực tiễn của đất nước, gắn bó với cuộc sống của nhân dân, bảo vệ, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại; lên án, phê phán không khoan nhượng những tiêu cực, xấu xa đang cản trở sự phát triển của đất nước và con người Việt Nam.”
Nói cách khác, Trần Thanh Đạm đã thấm nhuần rất kỹ các Nghị quyết và quan điểm chính trị của Đảng. Khi đối diện với bất cứ vấn đề gì, ông chỉ việc lấy “bửu bối” ông đã thuộc lòng ra áp lên vấn đề ấy là có thể có đáp án ngay.
Chỉ đáng tiếc là, từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) đến nghị quyết 23 của bộ chính trị (2008), Đảng đã đổi mới rồi, còn Trần Thanh Đạm vẫn nhận thức và hành xử như những nhà phê bình Xô Viết những năm 1960, thời chiến tranh lạnh trên thế giới.
3. Và tham vọng …
Trong bài viết “Tác phẩm văn học như một đơn vị ngôn từ”, Trần Thanh Đạm trình bày “hệ thống luận điểm” của “lý thuyết văn học” do ông đề xuất như sau:
“Hình thái đầu tiên của tác phẩm văn học với tư cách là một đơn vị ngôn từ rất đơn giản…”“Tục ngữ là hình thái nguyên sơ của tác phẩm văn học. Ở đây ta đã thấy những đặc trưng tiêu biểu nhất của một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ “; Ông giải thích: “ngôn từ có nhiều điểm khác với ngôn ngữ. Ngôn từ thì có ngôn từ nói, ngôn từ hát, ngôn từ viết. Có ngôn từ thông thường tự nhiên và ngôn từ có dụng công, dụng ý tức là ngôn từ văn hoá, ngôn từ nghệ thuật”.
Ông luận tiếp: “Từ thành ngữ đã có rồi, nhưng mới chỉ là bán tác phẩm, chưa thật hoàn chỉnh. Tục ngữ thì đã hoàn chỉnh. Tục ngữ là câu nói, đến ca dao là câu hát. Rồi đến các truyện kể… Hoàn chỉnh rồi, cố định rồi, tác phẩm rời khỏi ngôn từ, sống cuộc sống độc lập, thành lời nói có cánh, bay đi…”
Sự xuất hiện chữ viết tạo điều kiện cho văn học truyền miệng trở thành văn học thành văn, làm cho ngôn từ có cơ sở thành văn từ”;
“Như vậy, dưới góc nhìn ngôn từ, ta đã đi từ văn học dân gian đến văn học cổ điển (ở ta là văn học Hán Nôm). Nhiều dân tộc khác trên thế giới đều vậy cả…”
“Nếu ta viết cuốn lịch sử văn học đích thực, thì đối tượng của nó mà lịch sử cần tiếp cận chính là văn học theo quan niệm này. Tức là phải đi từ văn học dân gian, tức những tác phẩm có tính văn hoá và có tính nghệ thuật, sau đó đi vào văn học cổ điển mà ban đầu cũng là những tác phẩm có tính văn hoá, có giá trị văn hoá nhiều hơn.”
“Tóm lại, văn học là một loại hình ngôn từ, mỗi tác phẩm văn học là một đơn vị ngôn từ, từ ngôn từ văn hoá đến ngôn từ nghệ thuật, từ ngôn từ văn hoá mà thành văn hoá ngôn từ, từ ngôn từ nghệ thuật mà thành ra nghệ thuật ngôn từ. Dù đã trở thành văn hoá hay nghệ thuật thì vẫn là ngôn từ, cùng anh em họ hàng, cùng dòng máu. Sự phân biệt giữa chúng nếu khó khăn thì cũng là lẽ tự nhiên.”
Trần Thanh Đạm khẳng định “lý thuyết” của mình một lần nữa:”...bản chất của tác phẩm văn học là ở bản chất ngôn từ. Mỗi tác phẩm văn học là một đơn vị ngôn từ, từ ngôn từ thông thường mà trở thành ngôn từ văn hoa, ngôn từ nghệ thuật, từ ngôn từ rất đơn sơ như một câu tục ngữ đến một trường ca, hay tiểu thuyết trường thiên. Đó là tác phẩm nhất ngôn và tác phẩm đa ngôn. Giống như một cơ thể sống đơn bào và đa bào. Tục ngữ tựa như đơn bào. Đó là tác phẩm văn học chỉ có một lời. Còn những tác phẩm hiện đại có cấu tạo rất phức tạp, rất khác nhau. Chúng có nhiều bộ phận. Nhưng muốn hiểu cơ thể thì phải xuất phát từ tế bào…Văn học cũng vậy, phải từ các đơn vị ngôn từ nhỏ bé nhất để đi tới cấu trúc chung của tác phẩm văn học. “
Trần Thanh Đạm kết luận khẳng định “lý thuyết” của mình:
“Trên đây chỉ mới là hệ thống luận điểm chính của tư tưởng tác phẩm văn học là một đơn vị ngôn từ, cần phải được luận giải, chứng minh, xác minh thêm nữa. Chúng tôi tin rằng quan niệm này có thể bao quát được các hình thái khác nhau của tác phẩm văn học. Dù tồn tại dưới bất cứ dạng nào thì tác phẩm văn học cũng không nằm ngoài phạm vi đề cập của lý thuyết này được.”
Thú thực rằng, đọc “hệ thống luận điểm” Trần Thanh Đạm trình bày về “lý thuyết”: “tác phẩm văn học là một đơn vị ngôn từ”, tôi bị “choáng”. Bởi không hiểu ông định nói gì. Những “luận điểm” ông đưa ra pha tạp đủ mọi thứ “lý thuyết” và làm hỏng mọi lý thuyết mà ông vận dụng (nhưng ông không ghi nguồn). Một lý thuyết thường có nhiều thuật ngữ chứa đựng những phạm trù. Tôi đỏ mắt tìm xem ông giải thích “đơn vị ngôn từ” là gì, nhưng tuyệt nhiên không thấy. Cũng vậy, tôi dò tìm xem ông xác lập phạm trù “tác phẩm văn học” là gì, cũng không thấy. Tôi không biết ông dựa vào đâu để đưa ra nhận định: “Tục ngữ là hình thái nguyên sơ của tác phẩm văn học“. Thành ra lý thuyết “tác phẩm văn học là một đơn vị ngôn từ” là một khái niệm hàm hồ ngay từ điểm xuất phát.
Lẽ ra ông phải nói rõ “ngôn từ có nhiều điểm khác với ngôn ngữ” là lý thuyết của F. Ferdinand de Saussure, nhưng ông đã không ghi nguồn, thành ra đó là luận điểm của ông. Lẽ ra khi nói về tác phẩm văn học, ông nên tham khảo R.Barthes về văn bản và tác phẩm. Lẽ ra ông nên “mượn” một ít lý thuyết của Trường phái Hình Thức Nga để lý giải “tính văn chương” của tác phẩm. Để lý giải sâu hơn về tác phẩm, ông nên vận dụng Chủ nghĩa cấu trúc mà phát hiện ra ‘ngữ pháp’ của văn chương, tức những quy ước làm cho một hình thức diễn ngôn nào đó trở thành văn chương rồi Giải cấu trúc, để xem nghĩa của tác phẩm ngoài văn bản trong tính chất liên văn bản. Cũng cần dùng cả Phân tâm học để khám phá những “ẩn ức” thăng hoa thành nghệ thuật. Sau đó vận dụng các lý thuyết về Người đọc (reader theory) để giải mã ý nghĩa của tác phẩm trong những “tầm đón đợi”(Hans Robert Jauss) trong “ cộng đồng diễn dịch”(Stanley Fish)…Dẫu thế nào ông cũng phải quan tâm đến tác giả, dù R. Barthes nói “tác giả đã chết”. Và để theo kịp với lý luận văn học thế giới, ông còn phải xem xét lại “lý thuyết” về tác phẩm văn học của mình dưới ánh sáng các lý thuyết văn hóa nữa. Bởi văn học là một thành tố của văn hóa, góp phần làm nên bộ mặt văn hóa của cộng đồng, của thời đại.
Nhưng những điều vừa trình bày, xem ra Trần Thanh Đạm không bận tâm, vì trong não trạng của ông, đó là những thứ làm cho văn học trở thành văn học không có con người, văn học phi nhân, vô luân, vô thức
Nói như vậy để thấy rằng tư duy lý luận văn học của thế giới rất phong phú và năng động. Mỗi lý thuyết đều có những khám phá rất sâu sắc về một mặt nào đó của văn học. Những người sáng lập lý thuyết đã có những công trình thực sự có ý nghĩa cách mạng về vấn đề. Việt Nam mới hội nhập toàn cầu hóa, thì cần mở rộng tầm nhìn để tiếp thu tinh hoa của nhân loại. Việc tiếp thu này mới ở giai đoạn đầu, nói gì đến việc đề ra một “lý thuyết” mới. Khi Trần Thanh Đạm đưa ra “lý thuyết” về tác phẩm văn học, nhất thiết ông cần phải biết những người đi trước ông đã nói những gì, và ông có thể khám phá thêm được những gì. Tôi thấy thương cho ông vì những nỗi lực của ông bị thất bại, bởi “lý thuyết” của ông đầy dẫy sự hàm hồ, không thể dùng làm nền tảng để giải quyết bất cứ vấn đề gì của văn học Việt Nam.
Nếu gọi Trần Thanh Đạm là một nhà phê bình thì có thể đặt ông vào chiếu ngồi của các nhà phê bình chính trị [5]. Những nhà phê bình này chỉ xem xét văn học ở chức năng phục vụ chính trị. Ông khẳng định: “chúng ta phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, làm kim chỉ nam cho lý luận văn học”.
Và tôi lại thấy câu văn này trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011): “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động…”
Tháng 2. 2017
____________________________
[1] Nguồn: Văn, tạp chí sáng tác nghiên cứu lý luận phê bình văn học nghệ thuật
của Hội Nhà văn TP. HCM, số 21 (Bộ mới tháng 1 – 2.2005)
[2] Thụy Khuê-Phê bình văn học Nga-Trường phái Hình thức -http://thuykhue.free.fr/stt/p/PBVH-Ch04.html
[3] Lại Nguyên Ân-Một số vấn đề xung quanh phạm trù chủ nghĩa hiện đại:
http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/ly-luan-van-hoa-hoc/vhh-cac-truong-phai-trao-luu/204-lai-nguyen-an-ve-pham-tru-chu-nghia-hien-dai.html
[4] đăng lại trên eVăn ngày 02.12.2004 và Văn Nghệ ngày 04.12.2004.
[5] Đọc thêm: Trần Thanh Đạm- Văn học tự vấn và chức năng tự nhận thức, tự phê phán của văn học (Tham luận hội nghị lý luận phê bình văn học nghệ thuật toàn quốc (tài liệu sử dụng nội bộ) của Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương, Hà Nội tháng 3. 2006, trang 162-165) đăng trên Talawas ngày 15.03.2006. Trong tham luận này, đứng trên lập trường chính trị, Trần Thanh Đạm cực lực phê phán Nguyên Ngọc về cái gọi là “văn học Tự Vấn”.
Và “lý thuyết”: Tác phẩm văn học như một đơn vị ngôn từ.
Bùi Công Thuấn
PGS-NGND Trần Thanh Đạm (1932-2015) quê ở xã Lộc Thủy, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông từng là giảng viên khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, trưởng Bộ môn Văn học nước ngoài Khoa Ngữ văn và Báo chí Trường Đại học tổng hợp TPHCM. Ngoài ra, ông còn là Uỷ viên Hội đồng Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật Trung ương, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh và nguyên phó viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục.
Ông đã xuất bản:
-Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể (1968),
-Tục ngữ và vấn đề nguồn gốc văn chương,
-Dẫn luận văn học so sánh,
-Sự chuyển tiếp của văn chương Việt Nam sang thời kỳ hiện đại.
Cùng với Phạm Thị Hảo dịch tác phẩm:
- Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp (xuất bản năm 2007)
Viết chung các tác phẩm như:
-Trích giảng văn học lớp mười phổ thông (1964),
-Giảng dạy văn học Việt Nam (phần cổ điển và cận đại) ở trường phổ thông cấp ba (1966),
-Văn học và cuộc sống: Tập lý luận - phê bình văn học (1996)…
Tôi đã định không viết về ông, vì số lượng bài viết của ông về văn học không nhiều và chưa đủ hình thành một khuôn mặt riêng. Nhưng rồi đọc bài ông viết, tôi thấy hiện ra ở ông bóng dáng một kiểu nhà phê bình văn học ờ Việt Nam trước giai đọan đổi mới (1986), vì thế tôi ghi vài dòng về đặc điểm của kiểu nhà phê bình này, góp thêm vào diện mạo chung.
1.Nhà phê bình Marxist giáo khoa thư.
Trần Thanh Đạm là kiểu nhà phê bình Marxist giáo khoa thư vì lập trường phê bình của ông là quan điểm chủ nghĩa Marx-Lênin về văn học, và cách viết của ông là cách viết như trong sách giáo khoa.
Xin đọc một đoạn:
“Câu hỏi: rốt cục văn học là gì?...
…Chúng tôi xem văn học sinh ra từ ngôn ngữ. Trong thời kỳ đầu, loài người chỉ có ngôn ngữ thôi. Ngôn ngữ cùng với lao động sinh ra con người. Ban đầu con người giao tiếp bằng ngôn ngữ tự nhiên. Trong giao tiếp, dần dần nhận ra ngôn ngữ có sức mạnh. Họ tin vào sức mạnh này. Từ đó sinh ra những câu thần chú. Hay như lời ru con của mẹ, lời dỗ dành người thương. Khi đó, con người mong mỏi dùng sức mạnh của ngôn ngữ để tác động vào nhau, chứ không đơn thuần chỉ để hiểu nhau. Tác động về tâm lý, tình cảm. Từ đó sinh ra lời chúc phúc và lời nguyền rủa. Trong yếu tố gốc hình thành nên các từ này đều có nghĩa là lời nói (benediction, malediction) - tốt hay xấu nhằm cầu mong điều tốt lành hoặc mong mỏi điều ác độc đối với một ai đó, tuỳ vào mối thiện cảm hay ác cảm của mình với họ. Ở ta có câu lời nói là một đọi máu là thế. Lời nói như hoa gấm, lời nói như gươm dao. Như vậy lời nói có tác động tinh thần mạnh mẽ như là một sức mạnh vật chất. Nhưng, nếu xét kỹ, lời nói chính là vật chất chứ không đơn thuần là tinh thần”(Tác phẩm văn học như một đơn vị ngôn từ)
Xin đối chiếu với đoạn văn giải thích nguồn gốc văn học trong giáo trình Lý luận văn học của Lê Lưu Oanh và Phạm Đăng Dư (Đại học Sư phạm Hà Nội-Nxb ĐHSP Hà Nội 2008):
“Chủ nghĩa Mác cho rằng, điều kiện ra đời của văn học trước hết gắn liền với sự hoàn
thiện của chủ thể sáng tạo ra nó là con người. Quá trình lao động đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện con người. Chính lao động đã góp phần làm cho đôi tay con người ngày càng phát triển, trở nên linh hoạt khéo léo, các giác quan con người ngày càng phát triển và hình thành ngày càng rõ nét những cảm xúc thẩm mĩ. Đó là quá trình làm cho con người có năng lực cảm thụ cái đẹp của khách quan và có năng lực sáng tạo ra văn học nghệ thuật.
Nhờ có lao động, con người như một chủ thể thẩm mĩ có khả năng hiểu biết, thưởng thức và sáng tạo cái đẹp dần dần xuất hiện. Một số quy luật của cái đẹp tự nhiên được nhận thức trong quá tr.nh lao động, chiếm lĩnh đời sống…”
Phần giải thích của Trần Thanh Đạm có pha tạp nhiều nguồn thành ra kém thuyết phục so với giáo trình Lý luận văn học của Lê Lưu Oanh-Phạm Đăng Dư. Những cách giải thích nguồn gốc văn học như thế ngày nay đã thành “cổ điển’ và không còn thuyết phục nữa.
2.Nhà phê bình-Người chiến sĩ
Trong Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam đồng chí Trường Chinh có nêu lên rằng: "Không có phê bình, không có luận chiến phong trào văn nghệ nước ta êm đềm quá, trầm mặc quá. Nó khác nào con ngựa đi bước một, rũ cổ xuống đất, thiếu một cái roi phê bình quất cho nó lồng lên”. Nói phê bình là cái roi ngựa là nói tính chiến đấu của nhà phê bình.
Trong bài Một sai lầm thế kỷ trong lý luận phê bình văn học (2004),[1] Trần Thanh Đạm đã “vung roi quất” rất mạnh vào tất cả trào lưu lý luận và phê bình văn học đương đại phương Tây, Ông viết:
“Xu hướng lý luận, phê bình cũng như sáng tác phương Tây khởi đầu với Chủ nghĩa hình thức, đi vào Chủ nghĩa cấu trúc, Chủ nghĩa hậu cấu trúc, chủ nghĩa hiện đại, Hậu hiện đại rồi nhiều các trường phái khác: tiểu thuyết mới, phê bình mới, văn học phi lý, văn học suy đồi, thi ca vụt hiện, thi ca rú rít như con thú, cùng mọi thứ quái thai khác, chung quy đều xuất phát từ quan niệm văn học chỉ là nghệ thuật ngôn ngữ (language exercise, literary craft) biến ngôn ngữ thành một trò chơi, trò ảo thuật, áp dụng cái công thức của Chủ nghĩa hình thức Nga mà chính tác giả của nó là Chklovski đã từ bỏ, đó là “Nghệ thuật như là thủ thuật”, loại bỏ nội dung, ý nghĩa, tư tưởng, nhận thức, tri thức, lương tâm, lương tri, v.v…ra ngoài văn học, làm cho văn học trở thành văn học không có con người, văn học phi nhân, vô luân, vô thức, v.v… Thứ văn học này bắt đầu bằng Chủ nghĩa hình thức và giá trị cao nhất của nó là chủ nghĩa duy mỹ.
… Khi nó chỉ là nó thì nó trở thành vô nghĩa, điên rồ cũng đúng thôi, bởi vì một nền văn học tuyên ngôn coi khinh ý nghĩa (meaning) thì còn có ý nghĩa gì nữa. Nếu nó không còn có ý nghĩa gì cả, chỉ tồn tại thôi, thì “tồn tại hay không tồn tại” đó là một vấn đề. Nói chung, văn học mà không có ý nghĩa thì sự tồn tại cũng như không tồn tại.”
Đọc đoạn văn trên, người ta thấy Trần Thanh Đạm tỏ ra hiểu chưa thấu đáo về các trào lưu lý luận văn học phương Tây thế kỷ XX. Ông phê phán kịch liệt Chủ nghỉa Hình thức Nga với T. Todorov và R. Jakobson; sau đó là tất cả các lý thuyết đương đại. Ông “vơ đũa cả nắm” và cho rằng các lý thuyết văn học ấy “làm cho văn học trở thành văn học không có con người, văn học phi nhân, vô luân, vô thức… Khi nó chỉ là nó thì nó trở thành vô nghĩa, điên rồ cũng đúng thôi, bởi vì một nền văn học tuyên ngôn coi khinh ý nghĩa (meaning) thì còn có ý nghĩa gì nữa”.
Thụy Khuê dẫn lời của Eichenbaum khẳng định rằng Trường phái Hình thức Nga chủ trương hình thức chính là nội dung, không tách biệt:” "Khái niệm hình thức từ nay, đã có một ý nghiã mới, nó không còn là cái vỏ, là cái bình đựng nội dung nữa mà là một toàn bộ năng động và cụ thể có nội dung của nó, mà không cần một quan hệ hỗ tương kiểu bình và nước”[2].
Trần Thanh Đạm cũng ngộ nhận về “chủ nghĩa hiện đại” như một hệ thống lý thuyết về văn học. Thực ra chủ nghĩa Hiện đại là một khái niệm chỉ một loạt những trào lưu nghệ thuật khác nhau đầu thế kỷ XX đến những năm 1970. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cho biết:“các nhà phê bình Xô Viết liệt vào "chủ nghĩa hiện đại" và phê phán hàng loạt hiện tượng, nhóm phái trong văn nghệ các nước phương Tây suốt thế kỷ XX, từ chủ nghĩa tiền phong (avant-gardisme), các nhóm phái đađa (dadaisme), lập thể (cubisme), vị lai (futurisme), ấn tượng (impressionnisme), tượng trưng (symbolisme), siêu thực (surrealisme), biểu hiện (expressionisme), hình tượng (imaginisme) và hàng loạt hiện tượng văn nghệ khác, xuất hiện trước và sau thế chiến I (1914 - 18), tiếp theo là văn học phi lý, chủ nghĩa hiện sinh, tiểu thuyết mới, "pop-art" và nhiều hiện tượng khác trong văn nghệ phương Tây từ sau thế chiến II (1939 - 45) đến những năm 1970.
Bên cạnh đó, những phát hiện nghệ thuật ở văn học cuối thế kỷ XIX - đầu XX như "dòng ý thức", "độc thoại nội tâm", sáng tác huyền thoại, sân khấu phi lý, các thủ pháp "dán ghép" (collage), lắp dựng (montage), v.v... - đều được "tính" cho chủ nghĩa hiện đại.”[3]
Thái độ phê phán của Trần Thanh Đạm với “chủ nghĩa hiện đại “ không khác gì ở Liên xô trước đây. Lại Nguyên Ân cho biết: “Về căn bản, đây là lập trường của tuyến bảo thủ trong văn hóa truyền thống xét theo thái độ đối với tất cả những gì mang tính cách tân; ở khoa học Xô Viết, lập trường ấy trước hết bị quy định bởi các định hướng tư tưởng đảng tính, giai cấp tính. Tiền phong (avant-grad) cũng như chủ nghĩa hiện đại, ít khi là đối tượng của sự phân tích khoa học, nhưng thường khi lại là đối tượng của một sự phê phán trùm lớp, không cần có căn cứ xác đáng.”[Lại Nguyên Ân-đd]
Tính chiến đấu của “người chiến sĩ” Trần Thanh Đạm còn mạnh mẽ hơn nhiều khi ông trực diện phê phán những luận điểm có tính cởi mở trong bài phát biểu Vươn tới những thành tựu lý luận mang tính khoa học và nhân văn của ông Nguyễn Khoa Điềm- Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tư tưởng và Văn hoá Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương- đọc trong Hội thảo khoa học Lý luận văn học trước yêu cầu đổi mới và phát triển tại Viện Văn học (Hà Nội) ngày 25.11.2004, [4]. Người ta ngạc nhiên khi thấy Trần Thanh Đạm chỉ gọi đồng chí Nguyễn Khoa Điềm bằng một từ trống không là “diễn giả” mà không gọi bằng danh xưng của một người lãnh đạo văn nghệ trung ương. Càng ngạc nhiên hơn ở khi Trần Thanh Đạm tỏ ra “đứng cao hơn” Nguyễn Khoa Điềm: “Tôi cho rằng lý giải các yếu kém thiếu hụt của lý luận văn học chúng ta như diễn giả đã làm là có phần hời hợt, sơ lược, chủ quan, không trên cơ sở một nhận thức lịch sử thật chu đáo, thận trọng”… Bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Khoa Điềm, trong giới hạn và mức độ của nó… Tư duy, nhận thức của một người dù ở cương vị lãnh đạo đi nữa cũng có hạn…”
Lúc đầu Trần Thanh Đạm tỏ ra đồng thuận với phát biểu của Nguyễn Khoa Điềm rằng: “diễn giả đã có những nhận định theo tôi là xác đáng, cần thiết trong tình hình lĩnh vực lý luận văn học còn bề bộn ngổn ngang hiện nay”; “Diễn giả cũng có những nhận định lạc quan một cách đúng đắn đối với “thực tiễn văn học” ấy. Đây là thực tiễn văn học Việt Nam, trước hết là tình hình sáng tác của văn học hiện đại và đương đại”; “Không những khẳng định văn học Việt Nam hiện đại, đồng chí còn khẳng định văn học Việt Nam truyền thống”; “Nhất quán với quan điểm của mình, xem thực tiễn văn học là khởi nguồn của lý luận văn học, diễn giả cũng khẳng định mạnh mẽ nền lý luận văn học dân tộc”; “Ở đây cũng như ở các lĩnh vực khác, cần bảo vệ các thành tựu và các giá trị tích cực của dân tộc và cách mạng để ra sức đổi mới chúng, không bảo vệ các thành tựu đó thì nói đổi mới là đổi mới cái gì? Không thể như một vài người hô hào: làm lại từ đầu, xây lại từ móng. Nghĩa là lật đổ tất cả để làm lại tất cả. Chúng ta chắc ai cũng thấy được cái gì đằng sau những lời hô hào “đổi mới” như vậy”…
Sau những rào đón, che chắn và đồng thuận với “diễn giả” cho có, cho phải đạo, Trần Thanh Đạm trở giọng công kích mãnh liệt nhiều luận điểm của Nguyễn Khoa Điềm về những vấn đề như: “lý giải những mặt yếu của lý luận văn học chúng ta”; “vấn đề quan hệ giữa nội dung và hình thức”; “vấn đề quan hệ giữa chủ quan của nghệ sĩ và thực tại khách quan”; “vấn đề giữa sáng tác và tiếp nhận”; “Vấn đề quan hệ giữa văn nghệ và chính trị…” và đặc biệt là những nhận định của Nguyễn Khoa Điềm về những đổi mới nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp. Trần Thanh Đạm cho rằng Nguyễn Khoa Điềm “chưa nhận thức rõ về mặt lý luận cũng như thực tiễn…nên có ý muốn che chắn cho Nguyễn Huy Thiệp. Ông viết:
“Có lẽ do chưa nhận thức rõ về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong truyền thống của chúng ta nên diễn giả đã tiếp cận các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp một cách siêu hình, tách rời máy móc nội dung và hình thức. Ông nói rằng: “Tôi rất mừng khi nhận thấy những dấu hiệu đổi mới về ngôn ngữ nghệ thuật ở sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Có người đã nói anh Thiệp đã viết những điều trước nay chưa ai viết. Tôi thấy điều ấy không quan trọng lắm. Về mặt nội dung, có những điều anh Thiệp sai, nhưng về mặt đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật thì anh Thiệp lại là người có nhiều đóng góp. Đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật là một vấn đề vô cùng quan trọng và cần thiết, không đơn giản là nội dung quyết định hình thức như lâu nay ta thường nói. Ở vào thời điểm mang tính chuyển đổi thì nhiều lúc hình thức lại mang tính cách mạng của nó”.
Không cần phải là nhà lý luận uyên thâm gì cũng có thể thấy nhận định của tác giả về Nguyễn Huy Thiệp là không chính xác, là tách rời nội dung với hình thức, tách rời ngôn ngữ nghệ thuật với tư tưởng nghệ thuật. Tôi cho rằng cả những người thích Nguyễn Huy Thiệp lẫn những người không thích đều thấy rõ cái điều gây scandale của nhà văn này trước hết là ở nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của anh phục vụ cho nội dung tư tưởng đó. Sự “đổi mới” của Nguyễn Huy Thiệp là trên cả hai phương diện chứ không thể nói: nội dung sai, không quan trọng mà lại có đóng góp về ngôn ngữ nghệ thuật….Ở Nguyễn Huy Thiệp, mặt sáng cũng như mặt tối, mặt đóng góp cũng như mặt phá hoại đều trên cả hai phương diện: nội dung và hình thức, tư tưởng và nghệ thuật, không thể phê phán cái này mà khẳng định cái kia. Cái mà diễn giả gọi là “tư duy biện chứng” không hề thấy ở đây. Không nói đến chuyện trong khi một số nhà văn, nhà phê bình lên án những ngôn luận xằng bậy của anh Thiệp đối với các văn hữu của mình trong Hội nhà văn Việt Nam thông qua các bài như: Trò chuyện với hoa thủy tiên, Mổ nhà văn, Tuổi 20 yêu dấu v.v… thậm chí xúc phạm đến cuộc kháng chiến của dân tộc, thì đồng chí Nguyễn Khoa Điềm hình như có ý muốn che chắn cho Nguyễn Huy Thiệp để tỏ ra mình “không can thiệp thô bạo vào các cuộc tranh luận học thuật” (!).
Quả là xưa nay chưa thấy một “nhà phê bình” nào dám công khai đánh giá về một Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tư tưởng và Văn hoá Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương là: “chưa nhận thức rõ về mặt lý luận cũng như thực tiễn… và có ý muốn che chắn cho Nguyễn Huy Thiệp, một nhà văn xúc phạm đến cuộc kháng chiến của dân tộc”
Sở dĩ Trần Thanh Đạm “mạnh dạn trao đổi” với Nguyễn Khoa Điềm như vậy, vì ông đứng trên lập truờng chính trị để lý giải mọi vấn đề. Ông viết:
“Đúng là lý luận văn học của chúng ta trước đây chịu ảnh hưởng của các thành tựu lý luận văn học từ các nước Xã hội chủ nghĩa anh em (trước hết là Liên Xô). Phải nói rằng đó là lý luận văn học của chủ nghĩa Mác – Lênin, của Chủ nghĩa xã hội trải qua gần 100 năm đấu tranh và xây dựng với nhiều thành tựu quan trọng và dĩ nhiên với những vấn đề tồn tại…Nền lý luận văn học cũng như toàn bộ nền văn học của chúng ta chủ yếu sản sinh từ thực tiễn văn học của chúng ta... Nó được sản sinh ra từ đường lối lý luận và thực tiễn của cách mạng dân tộc, dân chủ và xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ 1930 và sớm hơn, từ đầu thế kỷ 20, thể hiện trong các văn kiện của Đảng: Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, qua các đại hội văn nghệ và đại hội nhà văn, các tác phẩm lý luận phê bình của các nhà văn, nhà thơ lớn của chúng ta trong thế kỷ 20 như: Hải Triều, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh… và các nhà lý luận ưu tú khác của chúng ta…”
…”Đối với các vấn đề này, chính thống mà nói chúng ta phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, làm kim chỉ nam cho lý luận văn học. Chúng ta có thể chấp nhận và tiếp thu rộng rãi các quan điểm lý luận văn học phi Macxit nếu nó có hạt nhân hợp lý có thể giúp vào việc làm giàu, mở rộng và phát triển lý luận của chúng ta, bởi vì lý luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn “nhịp bước cùng thời đại, cùng cách mạng, cùng khoa học, không phải là một mớ giáo điều”.
Những tư tưởng trong các nhận định trên của Trần Thanh Đạm, người đọc có thể gặp trong bất cứ văn kiện chính trị nào của Đảng. Thí dụ luận điểm: ”chúng ta phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, làm kim chỉ nam cho lý luận văn học”. Xin đối chiếu với Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị “về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học,nghệ thuật trong thời kỳ mới”:“…Trên nền tảng mỹ học mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh, khuyến khích văn nghệ sĩ bám sát thực tiễn của đất nước, gắn bó với cuộc sống của nhân dân, bảo vệ, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại; lên án, phê phán không khoan nhượng những tiêu cực, xấu xa đang cản trở sự phát triển của đất nước và con người Việt Nam.”
Nói cách khác, Trần Thanh Đạm đã thấm nhuần rất kỹ các Nghị quyết và quan điểm chính trị của Đảng. Khi đối diện với bất cứ vấn đề gì, ông chỉ việc lấy “bửu bối” ông đã thuộc lòng ra áp lên vấn đề ấy là có thể có đáp án ngay.
Chỉ đáng tiếc là, từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) đến nghị quyết 23 của bộ chính trị (2008), Đảng đã đổi mới rồi, còn Trần Thanh Đạm vẫn nhận thức và hành xử như những nhà phê bình Xô Viết những năm 1960, thời chiến tranh lạnh trên thế giới.
3. Và tham vọng …
Trong bài viết “Tác phẩm văn học như một đơn vị ngôn từ”, Trần Thanh Đạm trình bày “hệ thống luận điểm” của “lý thuyết văn học” do ông đề xuất như sau:
“Hình thái đầu tiên của tác phẩm văn học với tư cách là một đơn vị ngôn từ rất đơn giản…”“Tục ngữ là hình thái nguyên sơ của tác phẩm văn học. Ở đây ta đã thấy những đặc trưng tiêu biểu nhất của một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ “; Ông giải thích: “ngôn từ có nhiều điểm khác với ngôn ngữ. Ngôn từ thì có ngôn từ nói, ngôn từ hát, ngôn từ viết. Có ngôn từ thông thường tự nhiên và ngôn từ có dụng công, dụng ý tức là ngôn từ văn hoá, ngôn từ nghệ thuật”.
Ông luận tiếp: “Từ thành ngữ đã có rồi, nhưng mới chỉ là bán tác phẩm, chưa thật hoàn chỉnh. Tục ngữ thì đã hoàn chỉnh. Tục ngữ là câu nói, đến ca dao là câu hát. Rồi đến các truyện kể… Hoàn chỉnh rồi, cố định rồi, tác phẩm rời khỏi ngôn từ, sống cuộc sống độc lập, thành lời nói có cánh, bay đi…”
Sự xuất hiện chữ viết tạo điều kiện cho văn học truyền miệng trở thành văn học thành văn, làm cho ngôn từ có cơ sở thành văn từ”;
“Như vậy, dưới góc nhìn ngôn từ, ta đã đi từ văn học dân gian đến văn học cổ điển (ở ta là văn học Hán Nôm). Nhiều dân tộc khác trên thế giới đều vậy cả…”
“Nếu ta viết cuốn lịch sử văn học đích thực, thì đối tượng của nó mà lịch sử cần tiếp cận chính là văn học theo quan niệm này. Tức là phải đi từ văn học dân gian, tức những tác phẩm có tính văn hoá và có tính nghệ thuật, sau đó đi vào văn học cổ điển mà ban đầu cũng là những tác phẩm có tính văn hoá, có giá trị văn hoá nhiều hơn.”
“Tóm lại, văn học là một loại hình ngôn từ, mỗi tác phẩm văn học là một đơn vị ngôn từ, từ ngôn từ văn hoá đến ngôn từ nghệ thuật, từ ngôn từ văn hoá mà thành văn hoá ngôn từ, từ ngôn từ nghệ thuật mà thành ra nghệ thuật ngôn từ. Dù đã trở thành văn hoá hay nghệ thuật thì vẫn là ngôn từ, cùng anh em họ hàng, cùng dòng máu. Sự phân biệt giữa chúng nếu khó khăn thì cũng là lẽ tự nhiên.”
Trần Thanh Đạm khẳng định “lý thuyết” của mình một lần nữa:”...bản chất của tác phẩm văn học là ở bản chất ngôn từ. Mỗi tác phẩm văn học là một đơn vị ngôn từ, từ ngôn từ thông thường mà trở thành ngôn từ văn hoa, ngôn từ nghệ thuật, từ ngôn từ rất đơn sơ như một câu tục ngữ đến một trường ca, hay tiểu thuyết trường thiên. Đó là tác phẩm nhất ngôn và tác phẩm đa ngôn. Giống như một cơ thể sống đơn bào và đa bào. Tục ngữ tựa như đơn bào. Đó là tác phẩm văn học chỉ có một lời. Còn những tác phẩm hiện đại có cấu tạo rất phức tạp, rất khác nhau. Chúng có nhiều bộ phận. Nhưng muốn hiểu cơ thể thì phải xuất phát từ tế bào…Văn học cũng vậy, phải từ các đơn vị ngôn từ nhỏ bé nhất để đi tới cấu trúc chung của tác phẩm văn học. “
Trần Thanh Đạm kết luận khẳng định “lý thuyết” của mình:
“Trên đây chỉ mới là hệ thống luận điểm chính của tư tưởng tác phẩm văn học là một đơn vị ngôn từ, cần phải được luận giải, chứng minh, xác minh thêm nữa. Chúng tôi tin rằng quan niệm này có thể bao quát được các hình thái khác nhau của tác phẩm văn học. Dù tồn tại dưới bất cứ dạng nào thì tác phẩm văn học cũng không nằm ngoài phạm vi đề cập của lý thuyết này được.”
Thú thực rằng, đọc “hệ thống luận điểm” Trần Thanh Đạm trình bày về “lý thuyết”: “tác phẩm văn học là một đơn vị ngôn từ”, tôi bị “choáng”. Bởi không hiểu ông định nói gì. Những “luận điểm” ông đưa ra pha tạp đủ mọi thứ “lý thuyết” và làm hỏng mọi lý thuyết mà ông vận dụng (nhưng ông không ghi nguồn). Một lý thuyết thường có nhiều thuật ngữ chứa đựng những phạm trù. Tôi đỏ mắt tìm xem ông giải thích “đơn vị ngôn từ” là gì, nhưng tuyệt nhiên không thấy. Cũng vậy, tôi dò tìm xem ông xác lập phạm trù “tác phẩm văn học” là gì, cũng không thấy. Tôi không biết ông dựa vào đâu để đưa ra nhận định: “Tục ngữ là hình thái nguyên sơ của tác phẩm văn học“. Thành ra lý thuyết “tác phẩm văn học là một đơn vị ngôn từ” là một khái niệm hàm hồ ngay từ điểm xuất phát.
Lẽ ra ông phải nói rõ “ngôn từ có nhiều điểm khác với ngôn ngữ” là lý thuyết của F. Ferdinand de Saussure, nhưng ông đã không ghi nguồn, thành ra đó là luận điểm của ông. Lẽ ra khi nói về tác phẩm văn học, ông nên tham khảo R.Barthes về văn bản và tác phẩm. Lẽ ra ông nên “mượn” một ít lý thuyết của Trường phái Hình Thức Nga để lý giải “tính văn chương” của tác phẩm. Để lý giải sâu hơn về tác phẩm, ông nên vận dụng Chủ nghĩa cấu trúc mà phát hiện ra ‘ngữ pháp’ của văn chương, tức những quy ước làm cho một hình thức diễn ngôn nào đó trở thành văn chương rồi Giải cấu trúc, để xem nghĩa của tác phẩm ngoài văn bản trong tính chất liên văn bản. Cũng cần dùng cả Phân tâm học để khám phá những “ẩn ức” thăng hoa thành nghệ thuật. Sau đó vận dụng các lý thuyết về Người đọc (reader theory) để giải mã ý nghĩa của tác phẩm trong những “tầm đón đợi”(Hans Robert Jauss) trong “ cộng đồng diễn dịch”(Stanley Fish)…Dẫu thế nào ông cũng phải quan tâm đến tác giả, dù R. Barthes nói “tác giả đã chết”. Và để theo kịp với lý luận văn học thế giới, ông còn phải xem xét lại “lý thuyết” về tác phẩm văn học của mình dưới ánh sáng các lý thuyết văn hóa nữa. Bởi văn học là một thành tố của văn hóa, góp phần làm nên bộ mặt văn hóa của cộng đồng, của thời đại.
Nhưng những điều vừa trình bày, xem ra Trần Thanh Đạm không bận tâm, vì trong não trạng của ông, đó là những thứ làm cho văn học trở thành văn học không có con người, văn học phi nhân, vô luân, vô thức
Nói như vậy để thấy rằng tư duy lý luận văn học của thế giới rất phong phú và năng động. Mỗi lý thuyết đều có những khám phá rất sâu sắc về một mặt nào đó của văn học. Những người sáng lập lý thuyết đã có những công trình thực sự có ý nghĩa cách mạng về vấn đề. Việt Nam mới hội nhập toàn cầu hóa, thì cần mở rộng tầm nhìn để tiếp thu tinh hoa của nhân loại. Việc tiếp thu này mới ở giai đoạn đầu, nói gì đến việc đề ra một “lý thuyết” mới. Khi Trần Thanh Đạm đưa ra “lý thuyết” về tác phẩm văn học, nhất thiết ông cần phải biết những người đi trước ông đã nói những gì, và ông có thể khám phá thêm được những gì. Tôi thấy thương cho ông vì những nỗi lực của ông bị thất bại, bởi “lý thuyết” của ông đầy dẫy sự hàm hồ, không thể dùng làm nền tảng để giải quyết bất cứ vấn đề gì của văn học Việt Nam.
Nếu gọi Trần Thanh Đạm là một nhà phê bình thì có thể đặt ông vào chiếu ngồi của các nhà phê bình chính trị [5]. Những nhà phê bình này chỉ xem xét văn học ở chức năng phục vụ chính trị. Ông khẳng định: “chúng ta phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, làm kim chỉ nam cho lý luận văn học”.
Và tôi lại thấy câu văn này trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011): “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động…”
Tháng 2. 2017
____________________________
[1] Nguồn: Văn, tạp chí sáng tác nghiên cứu lý luận phê bình văn học nghệ thuật
của Hội Nhà văn TP. HCM, số 21 (Bộ mới tháng 1 – 2.2005)
[2] Thụy Khuê-Phê bình văn học Nga-Trường phái Hình thức -http://thuykhue.free.fr/stt/p/PBVH-Ch04.html
[3] Lại Nguyên Ân-Một số vấn đề xung quanh phạm trù chủ nghĩa hiện đại:
http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/ly-luan-van-hoa-hoc/vhh-cac-truong-phai-trao-luu/204-lai-nguyen-an-ve-pham-tru-chu-nghia-hien-dai.html
[4] đăng lại trên eVăn ngày 02.12.2004 và Văn Nghệ ngày 04.12.2004.
[5] Đọc thêm: Trần Thanh Đạm- Văn học tự vấn và chức năng tự nhận thức, tự phê phán của văn học (Tham luận hội nghị lý luận phê bình văn học nghệ thuật toàn quốc (tài liệu sử dụng nội bộ) của Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương, Hà Nội tháng 3. 2006, trang 162-165) đăng trên Talawas ngày 15.03.2006. Trong tham luận này, đứng trên lập trường chính trị, Trần Thanh Đạm cực lực phê phán Nguyên Ngọc về cái gọi là “văn học Tự Vấn”.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

