Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017

NHỮNG NHÀ PHÊ BÌNH PHONG TRÀO

Lý luận và phê bình văn học-Diện mạo của một thời
NHỮNG NHÀ PHÊ BÌNH PHONG TRÀO
Bùi Công Thuấn



Nhà phê bình phong trào là những người viết phê bình văn học xuất thân từ phong trào. Họ viết phê bình theo phong trào. Đặc biệt, khi có một tác phẩm hay một hiện tượng văn học gây sốc thì chính những nhà phê bình phong trào tạo nên sự ồn ào trên văn đàn. Lúc này người ta thấy vắng bóng nhà phê bình chuyên nghiệp. Viết về họ, tôi chỉ ghi nhận một “hiện tượng” của phê bình văn học, làm đầy đặn diện mạo của phê bình văn học Việt Nam một thời.

“TAY NGANG” LÀM PHÊ BÌNH

“Giáo sư Hồ Ngọc Đại đã đề cập vấn đề này theo hướng cần phải có đội ngũ làm LLPBVH chuyên nghiệp, chứ không thể dừng lại ở mức độ của những người làm LLPBVH “tay ngang”. Theo giáo sư, để phân biệt được đâu là chuyên nghiệp, đâu là “tay ngang” thì phải căn cứ vào sản phẩm anh ta làm ra chứ không căn cứ vào học hàm, học vị, tuổi tác, giới tính... Ông đưa ra một dẫn chứng khá thú vị và thuyết phục rằng có một vị giáo sư, tiến sĩ tham gia biên soạn sách giáo khoa có những cái “sai lè”, ông Đại gọi đó là người “tay ngang”. Vị giáo sư nọ gặp ông Đại nói: “Sao ông lại bảo tôi là “tay ngang”, tôi là giáo sư, tiến sĩ của một trường đại học lớn, nhiều năm làm công tác biên soạn sách giáo khoa cho bậc học phổ thông và đại học”. Ông Đại trả lời thẳng thắn: “Anh là ai tôi không quan tâm, chỉ biết những cuốn sách mà anh biên soạn như vậy đích thị là sản phẩm của những người “tay ngang”, còn những người chuyên nghiệp không bao giờ người ta làm như thế”.[1]

Tôi gọi họ là nhà phê bình “tay ngang”, vì từ một duyên do nào đó, họ tạt sang viết phê bình. Công việc chính của họ là việc khác. Họ có thể là những nhà thơ, nhà văn, nhà báo, là kỹ sư, nhà khoa học, có khi là bác sĩ…lâu lâu họ viết một bài phê bình, nhân một hiện tượng văn học nào đó. Nhà thơ Inrasara là người chuyên nghiên cứu văn hóa Chăm. Ông làm thơ rồi trở thành người viết phê bình. Nhà phê bình Nguyễn Hòa là nhà báo. Nhà phê bình Đông La xuất thân là kỹ sư Hóa học. Đông La đang làm ở một viện nghiên cứu về dược của Bộ Y tế, do tình cảm sâu đậm với nhà thơ Chế Lan Viên, ông dấn thân vào văn chương, làm thơ rồi viết phê bình. Nhà phê bình Đỗ Ngọc Yên làm việc tại Viện Triết học. 10 năm đọc sách Triết, ông thấy “chất” của mình hợp hơn với lý luận phê bình. Nhà phê bình Hoài Nam (1975) là một nhà báo. Anh tốt nghiệp khoa Văn học - Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, về công tác tại Ban văn nghệ Đài truyền hình Việt Nam. Hoài Nam viết điểm sách, viết chân dung, viết về một số vấn đề, hiện tượng của đời sống văn chương đương đại. Nhà phê bình Đoàn Minh Tâm (1982), tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn - Khoa Sư phạm (nay là Đại học Giáo dục) - Đại học Quốc gia Hà Nội, làm biên tập viên ở tạp chí Văn nghệ quân đội…

Một vài người nói về công việc của mình: [2]

Nhà phê bình Nguyễn Hòa: “Tôi không viết phê bình đều đặn lắm, thường chỉ viết những gì tôi thấy cần viết. Tại sao ư? Có lẽ vì tôi chưa phải là người làm phê bình chuyên nghiệp. Khi làm nghề chuyên nghiệp, người ta sẽ viết trong sự thôi thúc nội tâm và từ đòi hỏi của đời sống văn học, còn khi làm theo lối nghiệp dư thì sở thích sẽ chi phối cung cách làm việc, thích thì làm, không thích thì thôi. Vả lại, gần đây, không hiểu tại sao tôi lại có xu hướng viết theo lối quan sát, tổng kết và lý giải, đánh giá một loại hiện tượng văn chương nào đó hơn là phê bình một tác phẩm cụ thể. Mặt khác, do còn có duyên nợ với văn hóa học - chuyên ngành tôi được đào tạo trước đây, nên cũng mất kha khá thời gian với “duyên nợ” ấy, thông qua những bài viết về văn hóa đương đại.”
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: “Tôi vẫn thường viết bài điểm sách theo yêu cầu PR của các nhà xuất bản và các nhà làm sách tư nhân. Tôi làm việc này đều đều ngày tháng. Tôi thấy đó là việc nên làm khi anh được yêu cầu PR nhưng chọn được cuốn sách anh thấy nên viết, cần viết. Quyền lựa chọn là tự do ở chính mình”.

Nhà phê bình phong trào đa dạng về xuất thân. Năng lực và trình độ rất khác nhau. Họ viết phê bình với động cơ và mục đích cũng rất khác nhau. Mỗi người có một phong cách riêng để gây ấn tượng. Có người thực tâm tham gia vào thế giới văn chương nghệ thuật. Có người được phong là Chí Phèo, vì ông ta muốn giết Cái Tinh Thâm Thời Đại Mình là Bá Kiến [*]. Có người giấu mục đích chính trị sau những mặt nạ.

Một vài trong số họ nói rất to, lấn át người khác, để giành chân lý về mình. Thường thì nhà phê bình phong trào rất tự tin về tài năng của mình, tự tin về những gì mình viết, không ngại đụng chạm và coi thường việc “ném đá” của công luận. Nhà phê bình Đông La cho biết: “Tôi đã hoàn thành 1 tập thơ, 1 tập truyện ngắn và 1 tập phê bình, cả 3 đều khá dầy dặn, tôi sáng tác chỉ vì văn chương nên không sợ gì hết. Còn chưa in vì chưa có tiền thôi. Mấy năm qua cho con du học Mỹ, thua chứng khoán hơn tỷ, thua “đất” vài ba tỷ, nên cũng gặp khó khăn...Nói thực muốn khen được những bài tôi viết liên quan từ khoa học, triết học đến lý luận văn học cần phải có tài đấy! Không ít người bạn tôi là PGS, TS (cụ thể là ở trường KHXH&NV TPHCM) sau khi đọc những bài tôi viết về triết học, về chính chuyên môn của họ, còn thú nhận rằng, không thể hiểu hết những điều tôi viết.”[3]

Trong Hội nghị lý luận phê bình văn học lần II (2006), có nhà phê bình được gọi là “thùng thuốc nổ”. Nơi trường văn trận bút, họ bộc lộ rõ cá tính. Thái độ phê bình nhiều khi đối nghịch nhau quyết liệt. Trong tranh luận, họ thường rời bỏ văn chương để bắt qua những vấn đề nhân thân của ngưởi đối thoại theo kiểu “bỏ bóng, đá người”. Họ dùng mọi thủ đoạn viết lách để giành phần thắng. Chính lực lượng này tạo ra sự sôi nổi của văn đàn trong những cuộc “bút chiến” (đa phần có mục đích ngoài văn chương). Một vài người trong số họ quá đà, gây ra tình trạng “loạn chuẩn”. Nhiều người bỏ qua cả những chuẩn mực văn hóa tối thiểu.
Tính chất “tay ngang” của nhà phê bình phong trào thể hiện rõ trong các hội nghị. Hội nghị lý luận phê bình lần II (2006) có hơn 200 người tham dự, với 60 tham luận. Ngoài khách mời và những nhà phê bình lý thuyết, còn lại, đa phần là nhà phê bình phong trào. Nhà phê bình Văn Giá tổng kết buổi sáng Hội nghị Lý luận phê bình văn học lần II (2006) như sau: “Sau phần Lễ bỏ qua phần Hội và tiến thẳng lên phần Chợ.”[4]

Một Hội nghị lý luận phê bình mà biến thành “chợ” thì không thể tưởng tượng nổi! Vì sao? Vì chẳng ai chịu nghe người khác nói. Theo tường thuật của Quỳnh Thi, có nhiều chuyện thật hài hước đã diễn ra trong hội nghị Lý luận phê bình lần II (2006). Chẳng hạn, nhà văn Nguyễn Văn Hạnh đọc tham luận có tiêu đề “Tự do tư tưởng - Tự do sáng tạo và hoạt động văn học nghệ thuật”. Mới đến nửa chừng của bản tham luận, hội nghị đã bắt đầu mất trật tự. Ai đó nói: “Về hưu rồi ông mới bàn đến tự do…”. PGS-TS Phạm Quang Trung đọc tham luận: “Rất cần một hệ thống lý luận văn chương dành cho nhà văn”. Ban đầu, người ta nói chuyện riêng, ồn ào. Nhưng khi Phạm Quang Trung nói được nửa chừng, thì đã 6 lần bị hội trường vỗ tay kèm theo tiếng hô “Thôi!”, “Thôi, xuống đi. Dưới này không phải là học sinh của ông ở Ðà Lạt đâu!”[5].

Tôi nghĩ đó không phải là một hội nghị của những nhà phê bình chuyên nghiệp.

Dù là phê bình văn học, nhưng Nhà phê bình phong trào thường quan tâm đến vấn đề thời sự ngoài văn chương. Vì thế, họ không dùng đến lý thuyết phê bình văn học mà dùng vốn lý luận văn học ở phổ thông. Họ lấy kinh nghiệm sống và viết, lập trường chính trị của mình làm chuẩn mực đánh giá hiện tượng. Với họ, cái đúng là cái hợp với Tôi. Khác với Tôi thì sai (thường không chấp nhận Cái Khác-The Others). Tất nhiên “cái Tôi” của nhà phê bình phong trào là rất phức tạp (về ý thức chính trị, về mục đích viết phê bình…)


SỰ PHỨC TẠP CỦA NHÀ PHÊ BÌNH PHONG TRÀO

Mỗi khi có một hiện tượng văn học, thì người ta thấy xuất hiện nhiều người viết phê bình có cái tên lạ. Và khi ấy, những nhà phê bình lý thuyết, các nhà phê bình chuyên nghiệp thường “lặn” mất. Văn đàn thuộc về nhà phê bình phong trào, họ thả sức “múa gậy vườn hoang”. Nhất là từ khi Internet cùng với các trang web văn chương và blog cá nhân xuất hiện, thì phong trào phê bình trở nên sôi nổi vượt ra “ngoài tầm kiểm soát”.

Chẳng hạn, trường hợp truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. Truyện được in trên báo Văn Nghệ tháng 9/2005 và được chọn là 1 trong 10 truyện ngắn hay của báo Văn Nghệ 2005. Khi Cánh đồng bất tận được báo Tuổi Trẻ giới thiệu, công luận dậy lên một cao trào phê bình, một bên là phản đối, một bên là bênh vực tài năng. Trang Viet-studies.com của GS Trần Hữu Dũng (USA) ghi nhận, từ tháng 12/2005 đến 30/6/2006 có 66 bài viết của nhiều tác giả như: Hữu Thỉnh, Trung Trung Đỉnh, Chu Lai, Nguyễn Quang Lập, Phạm Xuân Nguyên, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Minh Thái, Lê Ngọc Trà, Nguyễn Khắc Trường, Lê Minh Khuê, Tạ Duy Anh, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Hòa, Hoàng Đình Quang, Lê Minh Quốc, Lê Chí, Huỳnh Ngọc Trảng, Lê Vĩnh Trang, Nguyễn Trọng Tín, Ngô Khắc Tài, Vy Thùy Linh, Đỗ Hoàng Diệu, Lê Duy, Công Thắng, Vũ Hồng, Vưu Nghị Lực, Nguyễn Tý, Huỳnh Kim, Trần Thanh Bình, Lê Phú Khải, Tào Văn An, …
Ban Tuyên Giáo tỉnh ủy Cà Mau đã kiểm điểm Nguyễn Ngọc Tư vì: “Cánh đồng bất tận thiếu tính tư tưởng, giáo dục xã hội, giáo dục con người, thiếu tính văn hóa nghệ thuật góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp mà xuyên tạc chê bai nhiều, gây bất lợi./ Phê phán xã hội, nói cái xấu, mặt trái, hư cấu vượt quá hiện thực, cái không tốt nhiều hơn, không định hướng cho con người đi đến tương lai cuộc sống, hướng tới cái đẹp.”[6]

Tác giả Lê Hồng Thọ (Tokyo) nhận xét: “Đâu rồi những tác phẩm văn chương hiện đại của Việt nam? Người ta thường trách móc, tự vấn tại sao đất nước có nền văn hoá, truyền thồng lâu đời, trải qua những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử từng làm ngạc nhiên, phấn chấn cho hàng trăm triệu người trên trái đất và đang chuyển mình bức phá lạc hậu, nghèo đói một cách mãnh liệt hôm nay nầy lại chỉ có “Cánh đồng bất tận” với những người “chăn vịt chạy đồng” là hiện tượng đáng chú ý, bàn luận sôi nổi trong đời sống văn học đến thế sao? Một xã hội sinh động đang cọ xát kịch liệt giữa “cũ” và” mới”, giữa những bóng tối và ánh sáng, giữa con người chật vật với “thực tế”, với “hội nhập”…phải chăng là một “cánh đồng bất tận” bao la, là sân chơi cho những nhà văn hiện đại, là bãi đáp cho những đàn cò trắng của văn học Việt Nam hơn là những vũng bùn đục ngầu sa đọa kiểu phương tây mà họ đã đi trước Nguyễn Ngọc Tư hàng thế kỷ. Thế mà “Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư lại được giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam mới là chuyện lạ đời, tiêu chí đánh giá để trao giải thưởng của Hội nằm ở đâu, liệu điều nầy vô tình đã hạ thấp giá trị của nền văn học hay nói khác đi văn học đương đại của nước nhà chỉ có thế mà thôi, “Cánh đồng bất tận” là đỉnh cao nhất ?Đáng buồn thay!”[7]

Trái lại, nhiều nhà phê bình lên tiếng bênh vực và khen ngợi Cánh đồng bất tận. Phạm Xuân Nguyên: “Cánh đồng bất tận: Dữ dội và nhân tình”; Nguyễn Thu Thủy – 'Cánh đồng bất tận' đề cao giá trị sống con người”. Đỗ Hồng Ngọc: “Tiếng thở dài với Cánh đồng bất tận”; Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho biết ý kiến của ông khi dư luận ồn ào: “Đây là một tác phẩm văn chương, chứ không phải là bút ký hay phóng sự. Tác giả hoàn toàn có quyền hư cấu, sáng tạo nhằm chuyển tải tốt nhất thông điệp nghệ thuật đến người đọc. Đảng và Nhà nước hoàn toàn tôn trọng quyền tự do sáng tạo của người nghệ sĩ. Đây chỉ là vấn đề ứng xử với một tác phẩm văn chương. Tất nhiên, tác phẩm còn có những chỗ bất cập, non nớt bởi nó là một truyện ngắn vạm vỡ của một tác giả còn rất trẻ, vì vậy cũng rất cần sự chỉ bảo, góp ý chân tình, đầm ấm. Nguyễn Ngọc Tư là người tha thiết yêu quê hương, không lý gì cô lại có ý xúc phạm đến quê hương và những người dân xung quanh mình./ Thực ra, vì yêu mến Nguyễn Ngọc Tư mà dư luận đã quá ồn ã trước sự việc này. Ban tuyên giáo tỉnh ủy Cà Mau chỉ mới yêu cầu chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh gặp gỡ, kiểm điểm chứ chưa có quyết định nào gay gắt cả. Tôi đã gọi điện cho Nguyễn Ngọc Tư, cô vẫn vui vẻ và cho biết, mọi chuyện diễn ra nhẹ nhàng chứ không có gì nặng nề như bạn đọc lo lắng.”[8]

Trường hợp tập truyện Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu gây bão dữ dội trên các diễn đàn cũng là một hiện tượng phê bình. Tuy nhiên, đàng sau những ý kiến tranh cãi là mục đích chính trị không che dấu. GS Mai Quốc Liên, trong một cuộc hội thảo, nói rõ, Bóng đè được một tác giả nước ngoài “mông má” lại, thành tác phẩm mang ẩn ý chính trị.

Tác giả Nguyễn Văn Lục trên Talawas đã nói rõ về những ẩn ý chính trị này:

“Bóng đè xuất hiện, đá lăn chiêng những thần tượng dỏm, mục rữa, để cân bằng với Nhật ký Đặng Thùy Trâm. Một bên sách hồng, một bên sách đen. Một bên tô hồng, một bên bôi đen. Có lẽ đất nước chúng ta cần cả hai thứ đó một lúc. Đây là hai hình ảnh khá tương phản, một nữ anh hùng và một nhà văn rất ấn tượng…

…Một nhật ký kể lại quá khứ lý tưởng và một nhà văn đảo xới mồ mả quá khứ lên như lời nguyền rủa. Nó như một bức tranh hiện thực có hai mặt, một bên nói tới lý tưởng, tới hy sinh cao cả của tuổi trẻ và một bên đặt lại tất cả những gì đã làm nên quá khứ đó.

“…Nhưng qua sự cố này, người ta có thể từ đó đánh giá được sự khác biệt sâu xa và căn bản giữa trong và ngoài nước. Bài học này của Đỗ Hoàng Diệu cho thấy bản chất sinh hoạt văn hoá trong và ngoài nước có những khác biệt nền tảng. Đó là cùng một dòng văn học Việt Nam, nhưng chia làm hai nhánh: Nhánh có lãnh đạo kiểm duyệt và nhánh không có chính sách kiểm duyệt. Một bên đa dạng, đủ kiểu, đủ sắc mầu. Một bên đồng phục, cùng một kiểu, cùng một mầu.”

Đỗ Hoàng Diệu đã muốn làm được một điều gì hơn thế nữa. Viết như một trả giá, đòi một món nợ tinh thần mà xã hội ấy, lịch sử ấy đã một thời lừa dối, phỉnh gạt. Chính ước muốn viết lột trần xã hội, đánh tụt giá những điều phô trương phỉnh gạt, trả lại cho nó cái mẫu số chung là sự canh chừng và tước đoạt tinh thần đã là cái cớ cho sự quy chụp hiện nay. “[9]

Hiện tượng thơ Thiền của Hoàng Quang Thuận lại bộc lộ một khía cạnh khác của phê bình phong trào. Ngày 8/8/2012 tại Hội trường Hội Nhà văn VN, Tạp chí Nhà văn đã tổ chức một cuộc hội thảo khá “hoành tráng”, có nhiều quan chức cấp cao tham dự. Nhan đề hội thảo là: “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử”. Theo Kỷ yêu Hội thảo, có 22 bản tham luận. Đa số tham luận là những bản tụng ca thơ Hoàng Quang Thuận. Hội thảo, có sự hiện diện của nhiều nhà phê bình, nhà thơ, nhà văn như: Hữu Ước, Nguyễn Thanh Sơn, Đỗ Ngọc Yên, Phạm Quang Trung, Trần Thị Thanh, Hà Ngọc Hòa, Lê Thị Bích Hồng, Ngô Hương Giang, Vũ Bình Lục, Nguyên An, Nguyễn Hòa, Văn Chinh, Hữu Thỉnh, Trần Nhuận Minh, Dương Kỳ Anh. Dương Xuân Nam, Ngô Văn Phú…

Nhà thơ Hữu Việt (Phó Chủ tịch đoàn) đề dẫn: “chỉ trong vòng ba ngày đêm lưu lại ở vùng nong thiêng, anh đã viết một mạch 63 bài thơ in thành tập “Thi Vân Yên Tử”. Sau đó ba năm, Hoàng Quang Thuận công bố tiếp “Ngọa vân Yên Tử” với 80 bài. Đến năm 2010, anh gộp lại thành tập 143 bài lấy tên chung là “Thi Vân Yên Tử”… Qua cuộc hội thảo hôm nay, chúng ta cũng mong muốn sẽ được lý giải phần nào hiện tượng làm thơ với số lượng nhiều trong thời gian rất ngắn của Hoàng Quang Thuận.”

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn (Phó Viện trưởng Viện Văn học) giữ vai trò Chủ tịch Đoàn cũng là Chủ tịch Hội đồng thẩm định tham luận, trong phần phát biểu tổng kết hội thảo, ông đã nêu lên 4 nội dung chính: Thứ nhất, hội thảo thừa nhận và ghi nhận sự xuất hiện của tập thơ “Thi vân Yên Tử” của tác giả Hoàng Quang Thuận như một hiện tượng văn học; Thứ hai, trong việc định giá thơ Hoàng Quang Thuận còn những băn khoăn và cách hiểu với nhiều mức độ khác nhau; Thứ ba, định tính về những sản phẩm thơ mang cảm quan Phật giáo và thơ viết về vùng đất Phật Yên Tử của Hoàng Quang Thuận là cực khó và chưa dễ tìm được sự đồng thuận; Thứ tư, vấn đề thể thơ và hình thức nghệ thuật của “Thi vân Yên Tử” là vấn đề còn nhiều gợi mở cho bạn đọc và giới phê bình.[10]

Khi “người làm thơ” Hoàng Quang Thuận bị phát hiện “đạo văn”, tạp chí Nhà Văn phải kiểm điểm, người ta mới vỡ nhẽ ra nhiều điều về tham vọng của người làm thơ muốn giật giải Nobel văn chương này. Các nhà phê bình được một phen bẽ bàng. Nếu người viết phê bình chỉ chú mục vào văn bản tác phẩm (thơ Hoàng Quang Thuận) mà không quan tâm đến những yếu tố văn hóa, xã hội và quá trình kiến tạo văn bản thì rất dễ ngộ nhận. Hoàng Quang Thuận nói thơ của ông là do tiền nhân giáng bút. Nhưng LS Nguyễn Minh Tâm cho biết: “Tình cờ, khi lên Yên Tử, tôi vào quầy sách của Ban quản lý, thấy cuốn Chùa Yên Tử, Lịch sử - Truyền thuyết di tích và danh thắng của tác giả Trần Trương… tôi phát hiện ra trong hầu hết các bài thơ anh Thuận viết, đều lấy từ nội dung cuốn sách này, thậm chí có nhiều bài thơ, câu thơ còn sao chép nguyên xi câu văn của tác giả Trần Trương.”[11]. Tham luận của nhà phê bình Nguyễn Hòa có những ý kiến phản biện có giá trị.

Phê bình văn học khó biết bao!

HIỆU QUẢ VĂN CHƯƠNG

Phê bình phong trào phản ánh ý kiến nhất thời của một cộng đồng người đọc (phương pháp đọc, trình độ đọc và mục đích đọc). Nó phơi bày ra một cuộc đấu tranh tư tưởng trên mặt trận văn nghệ. Ý kiến của công luận đôi khi có tác dụng rất mạnh tới tình hình chính trị tư tưởng đương thời. Những bài phê bình văn chương sex, ít nhiều có sức ngăn chặn những tác phẩm dùng sex bẩn cho những mục đích ngoài văn chương (thí dụ Bóng đè, Sợi xích). Năm 2015, khi công luận lên tiếng phản đối mạnh mẽ, Cục xuất bản phải ra công văn đình chỉ xuất bản truyện ngôn tình, đam mỹ. Vì người ta thấy rõ ảnh hưởng xấu của loại sách này đối với bạn đọc trẻ và sự gây hại của nó đối với văn học Việt Nam.

Đáng kể nhất là, Nguyễn Ngọc tư và Cánh đồng bất tận đã được bảo vệ khỏi những hệ lụy có thể có gây ra bởi nhận thức cũ, từ đó mở ra một khuynh hướng dân chủ hơn, thoáng hơn trong nhìn nhận đánh giá tác phẩm văn học. Công luận cũng đã ngăn chặn nhiều vụ đạo văn mà trường hợp Hoàng Quang Thuận là một vụ tai tiếng còn mãi đến mai sau. Chính nhà phê bình Nguyễn Hòa trong tham luận gửi tới Hội thảo “Hoàng quang Thuận và non song yên tử” đã lên tiếng cảnh báo về giá trị giả “thơ” Hoàng Quang Thuận trước khi nó bị phát giác.

Cũng vậy, có nhiều tranh cãi gay gắt về việc Hội Nhà văn trao giải thưởng cho tiểu thuyết Hội Thề của Nguyễn Quang Thân (2010). Một bên ca ngợi Hội Thề, bên phản biện cho rằng Hội Thề có nhiều sai lạc so với chính sử, xin đọc bài tổng hợp của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến [12]. Trong cuộc tranh luận này, người ta thấy sự hiện diện của nhiều nhà văn, nhà phê bình có thế giá. Đó là nhà thơ Hữu Thỉnh (Chủ tịch Hội Nhà văn), PGS.TS. Nguyễn Văn Dân, PGS.TS. Phạm Quang Trung, nhà phê bình Lê Thành Nghị, Đỗ Ngọc Thạch, Từ Quốc Hoài, Phạm Viết Đào, Hoài Nam, Hà Văn Thùy, Trần Mạnh Hảo, Hoàng Tiến, Trần Hoài Dương…Cuộc tranh luận không đưa đến kết quả cụ thể nào (Hội Thề vẫn được giải), nhưng lộ ra nhiều vấn đề. Đó là, không có một tiêu chí chung để đánh giá tác phẩm. Trái lại, những ý kiến về Hội Thề đều xuất phát từ góc nhìn cá nhân mà đằng sau đó là “sự nhạy cảm chính trị”. Những ý kiến phản biện đã chỉ ra những khiếm khuyết của Hội Thề so với chính sử, đó cũng là cách nhận thức chung về tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam. Nhà văn có quyền hư cấu, có quyền làm đầy những khoảng trắng lịch sử, nhưng không được trái với chân lý lịch sử, không được bịa đặt, xuyên tạc lịch sử; bởi lịch sử đươc viết bằng máu của dân tộc này. Cũng từ sự phản biện quyết liệt của nhiều nhà văn, nhà phê bình, người đọc buộc phải hoài nghi về việc trao giải của Hội Nhà Văn, và việc độc giả thờ ơ với những tác phẩm đạt giải là có nguyên do.

Tuy nhiên, mặt trái của phê bình phong trào là, trong khi tranh luận, có người đã quá đà “nặng lời” với người đối thoại. Kiểu ngôn ngữ vô văn hóa này dần dần trở thành cách nhà phê bình dung để hạ độc đối thủ. Ngày nay khi các cuộc tranh luận tạm lắng xuống, đọc lại những lời của nhà phê bình phong trào choảng nhau, người đọc không thể tưởng tượng được có lúc văn hóa tranh luận lại xuống cấp đến thế.

Trong bài: “Nhiễu loạn sách văn chương tái bản”,[13] nhà phê bình Đỗ Ngọc Yên đặt vấn đề về trách nhiệm cho tái bản những cuốn mà ông cho là “chứa nội dung thiếu lành mạnh, thậm chí là độc hại” như: Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu; Xin lỗi, em chỉ là con đĩ (tác giả Tào Đình Trung Quốc) do Trang Hạ dịch; Sợi xích của Lê Kiều Như; Trên lưng chừng nhìn xuống đám đông của Nguyễn Vĩnh Nguyên; Phù phiếm của Phan Việt; Sát thủ đầu mưng mủ của Thành Phong; Chân dài sao phải xoắn của Huyền Lê; Thương nhau để đó của Hamlet Trương và Iris Cao; Đường hai ngả - Người thương thành lạ của Anh Khang...”.

Tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên cho rằng đó là một bài báo ẩu, khó chấp nhận được.và yêu cầu “ông Đỗ Ngọc Yên cần làm rõ luận điểm của mình để tránh sự áp đặt, vu khống, gây bất lợi về mặt pháp lý, có thể phương hại đến hoạt động kinh doanh của công ty đầu tư và nhà xuất bản”. Cuối cùng, Nguyễn Vĩnh Nguyên “bày tỏ thái độ…, nói một lần cho xong chuyện”: “Đọc bài viết của ông Đỗ Ngọc Yên, tôi đã nghĩ, Wikipedia nên sớm cập nhật thêm một loại chó săn mới. Loại này vừa chỉ điểm, vừa ăn sẵn, vừa nhớ mùi lâu, vừa hung hăng, vừa theo bầy, và dĩ nhiên, là vừa trung thành, vừa hăng hái đến kệch cỡm – chó săn trong phê bình văn nghệ.”[14]

Tôi không nghĩ những lời lẽ như thế lại buông ra từ miệng một “nhà văn”. Nguyễn Vĩnh Nguyên sợ bài phê bình của Đỗ Ngọc Yên làm “phương hại đến hoạt động kinh doanh của công ty đầu tư và xuất bản”, trong đó có quyền lợi của anh, nên nặng lời sỉ nhục nhà phê bình. Hóa ra Nguyễn Vĩnh Nguyên không vì văn chương, mà sợ quyền lợi của mình bị tổn hại nên đạp vào mặt Đỗ Ngọc Yên để răn đe, mặc dù nhà phê bình này chỉ đặt vấn đề xã hội chung đối với nhiều tác phẩm. Chẳng nhẽ nhà phê bình không được quyền lên tiếng khi bầu khi văn hóa, văn chương bị nhiễm độc?

Và đây là lời nhà phê bình Đông La viết về ông Lê Hiếu Đằng: “Còn nữa, Đằng cũng rất láo khi viết về chuyện văn chương:’…các vị phê bình chỉ điểm (cách gọi mới đây của nhà văn Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội đối với tên Nguyễn Văn Lưu cùng với một số người trong việc ‘bề hội đồng’ bài viết của Thạc sĩ Nhã Thuyên về nhóm Mở Miệng)”. Nếu nghe theo thằng Nguyên chửi ông Lưu, bênh Nhã Thuyên, ca ngợi thứ thơ “buồi, dái, lồn, cặc, đụ, địt”, thơ ‘rác rưởi, cứt đái’, thì chắc Đằng thường ngày phải ăn cứt chứ không ăn cơm. Bởi nếu còn biết phân biệt cứt với cơm thì không ai viết như vậy”[15]

Dẫu thế nào cũng không thể chấp nhận được cách nói xúc phạm như vậy từ miệng một người viết văn, tức là người góp phần xây dựng “một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Sự biểu hiện văn hóa của một người là thước đo để người khác nhận biết về anh ta. Ngôn ngữ là thành tố quan trọng bậc nhất của văn hóa, vì thế không ai có thể che dấu nhân cách của mình khi diễn ngôn. Tuy nhiên, mỗi người có sự chọn lựa thái độ riêng khi bày tỏ chính kiến, vì đó là quyền của cá nhân. Và đánh giá của công luận dựa trên những chuẩn mức văn hóa dân tộc và cộng đồng cũng là quyền của mọi người.

Ai cũng biết nhà phê bình Đông La tự nguyện làm người lính trung thành bảo vệ Đảng. Đối với “người chiến sĩ” ấy, kẻ “chống Đảng” là kẻ thù, vì thế phải dùng bạo lực để trấn áp (dù là bạo lưc ngôn ngữ). Thực ra Đông La không chỉ “đánh” Lê Hiếu Đằng. Nhà phê bình này còn “to tiếng” về nhiều người khác, dù họ là “cán bộ cao cấp”. Chẳng hạn, khi “tâm sự” với nhà thơ Inrasara (thực ra là phản biện), Đông La cho biết: “Trước hết tôi phải thú nhận rằng đến nay tôi chưa biết Inrasara là ai?...“Chưa biết” ở đây là chưa biết Inrasara viết gì, hay dở ra sao, tài năng văn chương thế nào? Không phải do khinh người gì mà nếu ai quan tâm về tôi sẽ thấy tôi viết từ khoa học, triết học, lý luận văn học, lịch sử đến chính trị xã hội, phản biện từ cán bộ cao cấp như Trần Độ, Trần Xuân Bách, Trần Phương,..., đến các nhà văn hàng đầu như Nguyên Ngọc, Nguyễn Khoa Điềm, v.v…thì đúng là không có thời gian để ý đến Inrasara thật”.

Trong bài “Công kích Lữ Phương” [16], nhân việc phản biện Lữ Phương, Đông La còn nói về những người “chống đối” khác: “…tôi thấy các vị …đều rất tinh khôn, là những người có tham vọng, từng hưởng bổng lộc của chế độ, có những người còn có quyền cao chức trọng nữa…(hay chỉ đơn giản là mắc sai lầm, bị thất sủng mới quay lại chống đối?!) Lữ Phương hãy đọc những bài chửi nhau loạn xạ của Hoàng Tiến và Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Thanh Giang và Hoàng Minh Chính, Dương Thu Hương và Nguyễn Thanh Giang…, xem có mùi tiền, mùi quyền và mùi danh không?”

Trong bài Để Gió cuốn đi [17], trao đổi với Văn Chinh về tri thức cảm tính, Đông La viết: “như Lê Đạt, Văn Chinh, Nguyễn Huệ Chi…thực chất mới chỉ biết ‘đánh vần’ những khái niệm khoa học chứ hoàn toàn chưa hiểu gì về nội hàm và ngoại diện của chúng”
Tại Hội nghị lý luận phê bình văn học lần thứ IV (Tam Đảo-2016), Đông La giữ nguyên tư thế xung trận khi ông lên diễn đàn. Tay ông giơ cao một cuốn sách sắp in, trình trước Hội nghị, rằng trong đó ông nói về Trần Độ, Huệ Chi, Trần Xuân Bách, Phạm Xuân Nguyên. Ông cho rằng bây giờ trắng đen loạn xạ, có cả một phong trào lật đổ thể chế, điển hình là Nguyên Ngọc, Trần Mạnh Hảo. Nguyên Ngọc nói sai, nói lộn ngược. Gần đây ông bênh Bob Kerrey, nói rằng lính Mỹ bắn dân vì Việt Cộng núp trong dân, nên bộ đội cũng có tội. Nguyên Ngọc dùng miệng lưỡi xảo quyệt liếm máu Bop. Trần Mạnh Hảo nói Phát xít Nhật là chính nghĩa… [18]

Dù Đông La là một nhà phê bình chính trị nhưng tôi đặt ông vào vị trí nhà phê bình phong trào vì ông viết về nhiều đề tài, ông cho biết: “tôi viết từ khoa học, triết học, lý luận văn học, lịch sử đến chính trị xã hội”. Ông cũng là một người xông xáo trong mọi diễn đàn, không sợ đụng chạm. Trong đơn khiếu nại Hội Nhà văn Việt Nam về việc ông không được kết nạp vào Hội Nhà văn năm 2015, Đông La viết:
“…việc Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam vừa quá bán bỏ phiếu phủ quyết đơn xin vào Hội Nhà văn Việt Nam của tôi, không căn cứ vào tài, đức, thành quả văn chương của tôi, chỉ dựa vào thành kiến sai trái, cảm tính chủ quan, cảm tình cá nhân, đã vi phạm Nguyên lý Tập trung Dân chủ, là kết quả sai trái, không công minh và công tâm.”

Trước đoạn kết luận này, Đông La đã viết:

“ông Trung Trung Đỉnh, một đương kim Ủy viên BCH Hội Nhà văn VN, luôn ca ngợi Nguyên Ngọc, người đang trên tuyến đầu chống đối, còn định thành lập “Văn đàn độc lập”. Văn Công Hùng, một Ủy viên BCH khác của Hội Nhà Văn VN cũng ca ngợi Nguyễn Quang Lập, một nhà văn mới bị bắt và đã nhận tội,…”
“…Hội Nhà Văn VN cũng cần ổn định như xã hội cần ổn định vậy, vẫn cần đến thế hệ Nhà thơ Hữu Thỉnh nắm trọng trách, có những sai trái yếu kém thì phải sửa, nếu không Hội Nhà Văn sẽ là mảnh đất gieo mầm và nuôi dưỡng sự phản loạn. Dương Thu Hương, Nguyên Ngọc, Trần Mạnh Hảo, Phạm Viết Đào, Nguyễn Quang Lập, v.v… đã là như thế. Vì sai trái, chỉ bằng chữ nghĩa, họ đã không làm gì được, nhưng khi quyền lực rơi vào tay những người tiếp bước họ, như những kẻ xấu hiện có trong BCH Hội Nhà Văn VN thì sẽ rất nguy hiểm!”[19]

Hội Nhà văn đã trả lời ông rằng, lý do ông không được kết nạp năm 2015 là hồ sơ của ông nộp trễ. Không phải vì ông không đạt chuẩn về tài, đức, thành quả văn chương. Đúng vậy, năm 2016 Đông La đã được kết nạp vào Hội Nhà Văn Việt Nam.

NHÀ PHÊ BÌNH, ANH LÀ AI?

Những điều được trình bày ở trên chỉ là để làm rõ một vài đặc điểm của nhà phê bình phong trào và khắc họa đôi nét về diện mạo của một thời. Đến nay, các diễn đàn đã lắng xuống, có lẽ các nhà phê bình đã có thời gian “tĩnh tâm” để nhìn lại mình. So sánh với những tranh luận của các nhà phê bình ở đầu thế kỷ XX, các cuộc tranh luận trong những năm 1930-1945, tôi có nhiều điều ngẫm nghĩ.

Tôi luôn tin rằng, nhà phê bình phong trào ý thức rất rõ mình đang làm văn chương. Và biết rõ giá trị của trang viết của mình. Dù thế nào, trang viết của nhà phê bình cũng phải có chất “văn” (chất nhân văn, văn hóa trong tư tưởng và nghệ thuật). Nguyễn Tuân từng đề ra yêu cầu cho mình khi viết là Văn phải là văn. Thạch Lam cũng khẳng định, văn chương phải góp phần…”làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”.

Đọc những dòng của Nguyễn Vĩnh Nguyên, Đông La,…tôi thấy lòng trĩu nặng.

Tháng 5 năm 2017



Xem thêm các bài trong tập Phê bình văn học-Diện mạo của một thời.
Inrasara-Nhà “phê bình lập biên bản”
Nguyễn Hòa-Nhà phê bình “bàn phím và cây búa”
Phạm Xuân Nguyên-“Nhà văn như Thị Nở”
Vũ Bình Lục-Nhà phê bình phong trào

_______________________

[1] Đại hội LLPB VH lần thứ III-Đỗ Ngọc Yên.
http://www.hcmup.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=14327&lang=zh&site=30
[2] Nhà phê bình có viết phê bình? http://vietnamnet.vn/vanhoa/chuyende/2007/09/740441/
[3] Nguyễn Tý-Chân dung kẻ thua thiệt-lethieunhon.com 2009
[*] Trần Mạnh Hảo-Trả lời phỏng vấn (báo Pháp Luật Chủ Nhật số 136 ngày 06/11/2005)
“Còn việc ông nào đó quá sức đề cao tôi mà phong tôi thành Chí Phèo trong làng văn, làng báo thì vinh dự này tôi không dám nhận đâu…ít ra Chí Phèo đã giết được cái TINH THÂM THỜI ĐẠI MÌNH LÀ BÁ KIẾN; sau đó anh ta mới tự sát. Còn tôi, làm gì anh hùng tới mức ấy. Những giáo sư soạn sách giáo khoa văn học sai mà tôi phê bình hơn trăm bài báo còn sống nhăn ra đấy, vẫn tiếp tục làm chủ tịch các hội đồng soạn sách giáo khoa, thế thì Trần Mạnh Hảo còn lâu mới trở thành Chí Phèo được, thưa các ông “
[4] Trần Ngọc Linh – VietNamNet- http://www.thotre.com/luutru/index.php?menu=detail&mid=40&nid=1090
[5] Quỳnh Thi-Vài nét ở Hội nghị Lý luận phê bình văn học lần thứ II- www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8259&rb=0106.
[6] http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/van-hoc-sach/20060421/nguyen-ngoc-tu-bi-kiem-diem-nghiem-khac-vi-dieu-gi/133791.html,
[7] http://vietsciences.free.fr/nhipcaubandoc/diemsach/nhinvecanhdongbattan.htm
[8] Chia sẻ cùng Nguyễn Ngọc Tư và Cánh đồng bất tận: http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/gioi-sao/trong-nuoc/chia-se-cung-nguyen-ngoc-tu-va-canh-dong-bat-tan-1888023.html
[9] Nguyễn Văn Lục-Về một nhà văn bị Bóng đè: www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5823&rb=0102
[10] Dương Tử Thành-Hội thảo thơ Hoàng Quang Thuận nóng chuyện ‘tiền nhân mượn bút’.
http://huongdanphattu.vn/news/Doi-song/Hoi-thao-tho-Hoang-Quang-Thuan-nong-chuyen-tien-nhan-muon-but-3706/
[11] http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/tap-tho-thi-van-yen-tu-duoc-sao-chep-tu-dau-2134776.html
[12]Tranh luận quanh tiểu thuyết Hội Thề-ngày 22/04/2011 trên báo Thanh Niên: http://thanhnien.vn/van-hoa/tranh-luan-quanh-tieu-thuyet-hoi-the-331549.html.
[13] http://www.nhandan.com.vn/cuoituan/van-nghe/item/23844502-nhieu-loan-sach-van-chuong-tai-ban.html.
[14] Nguyễn Vĩnh Nguyên/Viet-studies -https://kimdunghn.wordpress.com/2014/07/26/ve-mot-loai-cho-san-trong-phe-binh-van-nghe/
[15] Đông La-Lê Hiếu Đằng, kẻ từng theo Đảng chống Mỹ, nay mong theo Mỹ chống Đảng - blog Đông La
[16] Đông La-Bóng tối của ánh sáng”, Nxb Hồng Đức, tr.254.
[17] Bóng tối của ánh sáng-đd-tr.316.
[18] Bùi Công Thuấn-tư liệu ghi chép Hội nghị lý luận phê bình văn học lần thứ IV.
[19] donglasg.blogspot.com/2014/12/on-khieu-nai-ve-viec-xet-on-xin-vao-hoi.html.

Chủ Nhật, 30 tháng 4, 2017

Trường ca Lòng Hải Lý của Đỗ Quyên

THƠ BAY TRÊN PHẬN CON NGƯỜI
(Đọc Trường ca LÒNG HẢI LÝ của Đỗ Quyên.Nxb HNV 2011)
Bùi Công Thuấn






Tôi chần chừ mãi mới viết được những dòng này, bởi, với tôi, trường ca Lòng Hải Lý của Đỗ Quyên không dễ đọc. Và cũng bởi Đỗ Quyên là một tác giả có tầm vóc một công dân toàn cầu. Anh sinh tại Hà Nội (1955); Định cư tại Canada (1996); Giảng dạy ngành Vật lý hạt nhân, Ðại học Bách khoa Hà Nội(1977-1988); Cộng tác viên khoa học Viện Dubna, Nga (1988-1990); Làm báo ở Ðức (1990-1996), ở Úc (2004-2008); ở Canada (1996-2010); Học bổng khoa học nhân văn Rockefeller 2001-2002, Trung tâm William Joiner, Mỹ.

Đỗ Quyên vừa là nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu và phê bình văn học; đồng thời là người say mê hoạt động văn học nghệ thuật. Đỗ Quyên cũng là khuôn mặt đặc sắc của văn học nghệ thuật hải ngoại Bắc Mỹ (Canada) bên cạnh những tài năng khác như Nguyễn Đức Tùng, Lưu Diệu Vân,…

1. “THƠ THẬT KHÔNG CẦN PHÊ BÌNH”


“Thơ thật không cần phê bình”, Đỗ Quyên bảo vậy. Anh còn dội một thùng nước lạnh lên đầu các nhà phê bình muốn đọc trường ca của anh:
“Ta cũng nghỉ chơi khâu làm thơ đoản
từ nay
Cứ trường ca mà nã chương một, hồi hai
Cánh phê bình
bảo đảm chỉ đọc câu đầu, đoạn kết rồi gõ máy liên hồi
phán:
Ý tưởng đầy mình, nội công chắc sẵn
Ngữ vựng, từ căn… hàng lũ hàng đàn
Gia cảnh an toàn ..”
(Đống chữ-Thân 2)
Ý của anh là, không nhà phê bình nào có đủ can đảm đọc hết tập trường ca này, họ chỉ đọc câu đầu, đoạn kết rồi phán bằng những lời tụng ca. Cũng có thể anh “dị ứng” với những nhà phê bình phong trào. Vậy thì tôi còn biết viết gì đây!

Trước khi viết về tác giả hay tác phẩm nào, tôi có thói quen tìm xem các nhà phê bình đã nói gì. Điều này cho tôi cái nhìn thoáng về đối tượng, và quan trọng hơn, tôi sẽ tránh lặp lại những gì người khác đã viết. Hơn thế, nó có thể gợi ý hay kích thích tôi tìm kiếm những điều chưa ai nhận ra. Cũng có khi đây là dịp được đối thoại với nhiều người, cọ sát với trí tuệ thời đại, được vậy thì thật thú vị. Tôi thích đọc các tác giả khó là vì vậy. Phê bình, đối với tôi, là đồng khám phá, sáng tạo với tác giả.

Trong chuyên luận 40 năm thơ hải ngoại, Văn Việt có bài giới thiệu rất hay về thơ Đỗ Quyên [1]. Bài viết cho tôi cái thú vị được thưởng thức một bản văn hay cả về nội dung và văn phong, nhưng cũng gây cho tôi những điều nghi ngại. Tác giả của Văn Việt nhận xét: “...trường ca Đỗ Quyên mô phỏng một thế giới không đặc trưng, không có cốt tủy, thậm chí không cả trung tâm không ngoại biên. Thơ ấy không dùng được vào việc gì có ích, nhưng bỏ qua không được.”

Tôi tự hỏi, một người đa tài và thành đạt như nhà thơ Đỗ Quyên, đã dồn tất cả say mê tâm huyết đời mình để làm thơ, một người ý thức sâu sắc rằng: “Văn chương là chữ nghĩa được con người tạo tác bằng mồ hôi và máu đào, bằng cuộc đời và có khi cả sinh mạng”[2], vậy mà thơ của người ấy lại không dùng được vào việc gì có ích, thì chẳng lẽ, sự lựa chọn con đường văn chương của Đỗ Quyền là sai hay sao? Chẳng lẽ, những lời khen thơ Đỗ Quyên chỉ là trò quảng cáo?

Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng lại có những nhận định khác. Trong buổi sinh hoạt văn nghệ hàng năm nhân dịp ra mắt tạp chí Người Việt Hải ngoại tại Vancouver, ngày 1-12-2007, Nguyễn Đức Tùng đã đọc một tham luận có những khám phá sâu sắc về trường ca Đỗ Quyên (Talawas đăng lại 2008)[3]. Ông cho rằng: “Đỗ Quyên là người có kiến thức văn học uyên thâm... Nhà thơ, bằng tác phẩm của mình, hay đôi khi bằng cả cuộc sống của họ, mà trong trường hợp này, một cách hết sức thận trọng, tôi muốn nhắc đến ví dụ Đỗ Quyên, giúp chúng ta ý thức về đời sống - dòng chảy của mỗi người. Người đọc tìm thấy trong thơ tiếng nói của mình, qua những khúc quanh khác nhau của cuộc đời bí ẩn mà chỉ riêng họ biết mà thôi, một tiếng nói dịu dàng nhưng nghiêm khắc, kiêu hãnh nhưng nhân từ, đem họ trở lại với cội nguồn sâu thẳm của đời sống”.

Như vậy là thơ Đỗ Quyên có ích đấy chứ, nào phải không dùng được vào việc gì có ích!

Tác giả Phi Hà ghi nhận được nhiều ý kiến nhận xét về trường ca của Đỗ Quyên [4].

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nhận xét: ““Sau 1975 chúng ta đã có một mùa trường ca. Nhưng sau đó các nhà thơ của chúng ta gần như ít viết trường ca. Cho nên một cố gắng như của Trần Anh Thái ở trong nước, một cố gắng như của Đỗ Quyên ở nước ngoài là rất đáng quý và đáng được phân tích, đáng được nghiên cứu, được tiếp tục. Và tôi nghĩ cái này phải đọc chậm, sống chậm, như là Đỗ Quyên đã dành 25 năm trong 35 năm của anh ở nước ngoài để viết nên trường ca này.”
.
Nhà văn Hoàng Minh Tường, chia sẻ: “Tôi có cảm giác rằng, anh Đỗ Quyên là người đích thực sinh ra để làm thơ, một người yêu thơ đến tận cùng”.

Nhà văn Văn Chinh đọc ở Đỗ Quyên điều này: “Đỗ Quyên nhắc chúng ta nhớ rằng người sáng tác phải luôn luôn ra khỏi những phạm trù quen thuộc mà các nhà thơ mới, các nhà thơ thời chống Mỹ đã làm – vì họ đã ngôn ngữ đẹp lên nhưng cũng khai thác chúng đến cũ rồi. Đỗ Quyên dùng những câu thơ của mình trong Lòng hải lý, để đo khoảng cách mà các nhà thơ đã ly thân với chính bản thân mình, với những thói quen, mà tôi nhớ có câu là phải “đả đảo đất dưới chân mình”.

Nhà phê bình Văn Giá giải thích vì sao thơ Đỗ Quyên khó đọc: “Tạm gọi trường ca Đỗ Quyên mang tính tiểu thuyết, nghĩa là hướng vào cái cá nhân đời tư, thường ngày, dở dang, không hoàn kết...(theo lý thuyết M.Bakhtin). Do đào sâu vào nội tâm cá nhân, nên bút pháp nhất quán từ đầu đến cuối là suy tưởng. Bút pháp này có cái hay, nhưng đọc cũng nặng, người đọc phải cố gắng. Chính vì thế, nếu lấy cái khung soi ngắm quen thuộc về trường ca như lâu nay thì sẽ không đọc nổi trường ca Đỗ Quyên. Vì lẽ đó có thể nói rằng: Trường ca Đỗ Quyên sẽ không dễ dàng đi vào bạn đọc Việt Nam hiện nay, nó kén chọn độc giả.”

Nguyễn Đức Tùng cũng xác nhận tính khó hiểu của thơ Đỗ Quyên: “Đối với nhiều người, thơ anh vừa dễ hiểu vừa khó hiểu, đọc từng câu thì hiểu, đọc toàn bài thì không hiểu gì cả. Như thế là vì anh đi trước độc giả quá xa, hay vì tính đặc trưng của thơ anh là vượt thoát các cố gắng giải thích?[3-đd]

2. TÔI ĐỌC THƠ ĐỖ QUYÊN

Xin trích một đoạn:

…Những đùi vế vút lên
sáng lại câu thơ cổ điển
Con đường sôi âm ỉ
ngút ngã tư già
Chế ngự từng thước tấc
phố nhà chưa lấn hết
Đường biên xấu hổ
cổng thành chúm chím gót chân
Nóc nhà thờ ngang cánh chim
thánh rỏ lệ mát bàn chân lữ khách
Những đứa con thừa cha
chạy ra
ném
các đụn tuyết không tan…
(Lòng Hải lý-Tám)

Tôi đọc và không thể hiểu. Rồi viện kinh Kim Cang mà rằng, không hiểu ấy là hiểu, mà nói hiểu, có nghĩa là không hiểu!!! Tôi tự an ủi mình vậy! Cũng may, Đỗ Quyên bảo: “Thơ thật không cần phê bình”.

Thú thực là nhiều lần tôi định bỏ cuộc. Đọc trường ca của Đỗ Quyên vất vả quá, vất vả hơn đi cày, trầy trật hơn đánh vật. Đọc đi, đọc lại; đọc nhanh, đọc chậm, Thơ như bức tường thành chắn lối, không sao thâm nhập được vào thế giới chữ nghĩa của Đỗ Quyên. Đọc theo Thi Pháp học, tìm cái lạ hóa, tìm thủ pháp, nhạc điệu vv,… thì Thơ vỡ nát. Đọc theo lối “truyền thống”, tìm mắt thơ mà điểm, nhưng tìm hoài nào thấy đâu là mắt thơ. Thơ cứ ào ạt tuôn chảy, lớp lớp sóng dồi. Lại thay đổi cách đọc. Đọc theo Cấu trúc luận và Giải cấu trúc. Chữ nghĩa vẫn chênh vênh, vì thơ Đỗ Quyên rất lỏng lẻo về cấu trúc. Có thể đọc đọan nào trước, đoạn nào sau cũng được; đọc cả đọan hay đọc rời từng câu, vẫn có nghĩa. Đây là những câu rời:

Em bảo:
Người đi biển không làm thơ
Anh bảo:
Người làm thơ đi biển.
(Lòng Hải lý-Ba)

- Em là bầu trời
cho thơ anh nở

Những bông hoa tươi nhờ nước mắt
(Đống chữ-Thân 7)

Không phải thơ Đỗ Quyên vừa dễ hiểu, vừa khó hiểu mà có những đọan khó hiểu và có những đoạn dễ hiểu. Những đoạn anh viết theo kiểu thơ truyền thống (Lục bát, thơ Lãng mạn) là những đoạn dễ hiểu:

Thơ ai khóc gió trên trời
Thơ em khóc lá khóc người dưới mây
Xưa em đen cả tháng ngày
Nay em trắng một đời này em thơ…
(Đống chữ-Thân 4)
Bạn có trong đời ba nỗi đau
Để riêng tận góc một lòng sâu
Lâu lâu gặp lại cho tôi nhận
Chung đỡ phần đang ở trong nhau…
(Đống chữ-Thân 7)
Tôi căng mắt quan sát thơ Đỗ Quyên, và nhận ra điều này. Thơ Đỗ Quyên là những dòng suy nghĩ miên man, trôi đi từ việc này sang việc khác, từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác, và trôi rất xa nguồn. Khoảng cách những câu thơ là những liên tưởng đứt đoạn, ẩn dụ nối tiếp ẩn dụ “cái biểu đạt” dẫn lối cho “cái biểu đạt” khác, khiến người đọc không sao theo kịp. Các hình ảnh thơ liên tiếp xuất hiện, phi logic. Các con chữ thuộc những trường nghĩa khác nhau đứng liền nhau. Tư duy ngôn ngữ và và quy tắc ngữ pháp Việt bị phân rã. Thời gian, không gian, nhân vật cốt truyện tạo nên cấu trúc không tồn tại. Không có một hiện thực nào được phản ánh để người đọc có thể dùng làm hệ quy chiếu qua đó xác lập ngữ nghĩa.

Với kiểu tư duy thơ này, tôi chỉ còn trông nhờ vào kinh nghiệm đọc dựa trên lý thuyết tiếp nhận hiện đại. Tôi nhận ra Đỗ Quyên sử dụng nhiều thủ pháp của văn chương Hậu hiện đại như, chen vào các yếu tố ngẫu nhiên, phi logic, sự phân mảnh, sự phi tâm, chất diễu nhại, tính chất trò chơi, xoá nhoà ranh giới giữa nghệ thuật và đời sống thường ngày, tác phẩm tựa như một bức tranh khảm có nhiều chất liệu dị biệt…Từ đó tôi tái cấu trúc và giải cấu trúc tác phẩm, kết nối các liên tưởng, loại bỏ những yếu tố ngẫu nhiên, phi lý; giải mã các ẩn dụ, các biểu tượng (thí dụ: Đảo, đảo nắng đảo mưa, tấm-vé-đời, bàn chân, con đường, những nụ hoa không nở, ly café mồ côi…); kết tụ những mảng hiện thực bị phân mảnh; lấp đầy những khoảng trống văn bản và đọc cái nghĩa do chính mình tìm thấy trong tác phẩm. Ý nghĩa này có khi trùng với ý nghĩa của tác giả gửi trong tác phẩm, có khi khác biệt do tầm kỳ vọng (Hans Robert Jauss) của người đọc, hay do sự khác biệt của cộng đồng diễn dịch (Stanley Fish) mà người đọc mang theo khi đọc tác phẩm. Tôi đọc trường ca Lòng Hải lý như đọc một tác phẩm mở (Umberto Eco). Và Đỗ Quyên nhắc tôi rằng: “Bản chất của thơ cần có mặt mà chưa cần để hiểu” (Buồn muộn cùng thế kỷ, chương 3)

Chẳng nhạn,
Trường ca Lòng Hải lý có chín đoạn thơ và một Phụ lục. Chủ thể, nhân vật Ta, khi thì độc thọai, khi đối thoại với em, với mẹ, với bạn…(thực ra đó là sự phân thân của tác giả trong một cuộc đối thoại giả định). Trải suốt trường ca là một câu chuyện (có cốt truyện, tình huống, nhân vật, thời gian, không gian), câu chuyện về hành trình thơ, về làm thơ, về số phận thơ, tương lai thơ... Câu chuyện này bị xé ra thành những giải, những chi tiết, và ngẫu nhiên quăng vào các đoạn thơ. Có khi câu viết về Thơ nằm giữa những xô bồ suy nghĩ miên man khác. Nếu không tái cấu trúc câu chuyện này, loại ra ngoài những yếu tố không nằm trong cấu trúc chính và giải cấu trúc này, người đọc sẽ hoàn toàn bị lạc trong rừng trùng trùng điệp điệp câu chữ, sẽ không sao lần được lối ra.

Cũng vậy, cả 4 trường ca trong tập Lòng Hải lý (Lòng Hải lý, Đống chữ, Buồn muộn cùng thế kỷ, Bài thơ không thuộc về ai), cũng là một câu truyện dài về Thơ, về hành trình thơ, về thân phận thơ, niềm tin vào thơ…, cho nên không phải vô tình mà Đỗ Quyên sắp xếp 4 trường ca này vào chung một tập thơ.

Câu chuyện, có điểm mở đầu, có điểm cuối:
Khởi một điểm hành trình -
Chữ của ta mang Nghĩa của đời
từ đó.
(Đống chữ-Thân 1)
Điểm cuối:
Tới gần rồi,
điểm cuối!
Đảo mưa trong anh
anh nắng trong em
Đường mòn đau thêm
thổn thức lịch trình xoắn ốc
Câu thơ treo ngửa
nấc
(Lòng Hải lý-Chín)

Và đây là câu viết về thơ treo vào giữa đoạn thơ, lơ lửng, lạc lõng, rời rạc, không kết nối giữa câu chuyện nhà thơ đang nói với bạn:

Bạn chỉ có đảo này trong địa chỉ
Còn bến kia trên bức ảnh nhộn màu
Con lộ ấy như vạn ngàn con lộ
Tiếng còi tàu không vượt tiếng còi tàu

Bút dốc ngược thơ xuôi dòng chảy
Im lặng thay mỗi chiếc kim giờ!
Ta bỏ bạn trên các đinh địa lý –
tên những làng, núi, sông...

3. LÒNG HẢI LÝ

Thơ anh có nỗi buồn mênh mông của gió
Bay trên phận con người
(Bài thơ không thuộc về ai- Kết số 10)
Chắc chắn đêm nay ba về và muộn
Việt Nam một vai, thế giới một vai
Ba dành hết. Phần cho nhân loại
những mùa thu có lá rơi đầy
(Buồn muộn cùng thế kỷ-Chương 3)

Lòng Hải lý là tấm lòng của tác giả đối với Thơ và đối với đời. Thơ là trái tim hiện sinh như “Sóng vỗ một lần thôi/ Câu thơ hạ rồi/ và mãi”. Thơ là cuộc lãng du vô định. “Để giờ mãi lênh đênh/ Mẹ là gió/ Tình chúng mình làm sóng/ Thơ - trước mặt/ chân trời.” Thơ là niểm hoan lạc miên viễn:

“Có sóng trên giấy
như có sóng trong lòng
Có gió bốc dưới mỗi bàn chân
và trong từng ngòi bút
Mùi trang giấy viết tinh khôi
ngửi suốt đời không ngán”

Thơ là niềm đam mê mãnh liệt:
Bằng thơ anh định nghĩa đó là sự trọn vẹn của tự do
Mực cây bút đời của anh đang ứa màu cam vàng đỏ màu của mãnh liệt và đam mê cần để ngồi 12 tiếng không ăn uống không làm tình không vào hộp thư điện tử để trải kín 24 trang trường ca
(Buồn muộn cùng thế kỷ-chương 3)

Người thơ có sự nhạy cảm khác thường: “Em biết thơ là bể khổ/ biết anh yêu thơ là khổ/ biết em yêu anh là khổ/ và biết anh yêu em là khổ kép khổ đơn.”

“Có khi một câu "Chó chết!"
đã làm thơ anh quẫy muôn lần
Có khi chỉ hắt đi trong ly trà đôi hạt bụi
là con tàu thơ anh lao”
(Buồn muộn cùng thế kỷ-chương 2)

Thơ là hạnh phúc bất tử:
“Theo con sông chữ nghĩa trên những chuyến đò ngang
là hạnh phúc ngắn
Hãy theo những chuyến đò dọc
để đến thác đầu ghềnh và những bãi hoang đổ ra biển đời của văn chương
để chết trong hạnh phúc bất tử
(Buồn muộn cùng thế kỷ-Chương 4)
Thơ có giá trị như chính đời sống

Người sống, đống chữ
Người chết, đống chữ…
Những người thơ
đang sống-chết
Đi gom ngàn con chữ/ như gom ngàn cọng cỏ, nhánh lau....
Sẽ có/ trong một ngày mơ của mình
(Đống chữ-Chung)

Đỗ Quyên tích lũy những tấm -vé -đời làm vốn cho thơ, đó là những chặng đường đời, vui, buồn, hạnh phúc, đau khổ mà nhà thơ đã trải qua
“Mình tích thủ các tấm - vé - đời/… Buồn vui, thành bại/… Chúng lóe ánh sáng kêu gọi…/ Chúng xếp hàng nhẫn nại/ chờ nhìn tấm vé cuối…/ tấm vé chưa nằm yên/ kích nới Lòng - Hải - Lý dài them/.trên các tấm vé mới” (Lòng Hải lý- đoạn 4)

Đỗ Quyên luôn thôi thúc cách tân thơ trước sự ám ảnh về cái chết của Thơ, khi cuộc hành trình bị trì trệ, con thuyền nằm in một chỗ.
“Chết phi lâm sàng với bác sĩ
là chết lâm sàng của kẻ làm thơ và của kẻ độc hành
Đường hẹp lại khi hành nhân nằm mãi
Những con thuyền thêm một chốn bơ vơ”
(Lòng Hải lý- Sáu)
“Nhà thơ hôm nay không thể viết câu chữ nghĩa địa, ý tưởng mồ mả, nhịp điệu lên đồng, chủ đề quan tài, thể loại hóa vàng hôm qua
Để nghệ thuật sống tồn”
(Bài thơ không thuộc về ai-chương 3)
Chương viết về thân phận nhà thơ (Đống chữ-Thân 5: Mộ văn) là chương đầy bi thiết, bộc lộ sự tài hoa rất mực của ngòi bút Đỗ Quyên. Bên dưới sự diễu nhại khôi hài, Đỗ Quyên dành nhiều nước mắt cho những nhà thơ vì hoàn cảnh riêng mà phải tìm cái chết để sống, để khẳng định sự tồn tại một nhân cách. Từ xưa đến nay, từ đông sang tây, bao nhiêu là cảnh thương tâm: Lý Bạch, Essenin, Nguyễn Tất Nhiên, Maiacovxki, Hemingway?

Nhất Linh đã chết (hay tự chết) như thế nào?”
Ôi những cái thời anh hùng trong tấc gang/ hèn nhục trong choáng váng…”
…Nhất Linh trước sau cũng chết
như một nghi án chính trị-văn chương
Tài mệnh cho ông
chọn Chết triết học -
như con dê giữa hai bó cỏ
… Gió Canada sẽ thổi lên trời xanh những tiếng khóc của em
như hôm qua mưa phùn Bắc Việt làm ướt thêm những
trang văn ông trong mắt mẹ.

Không gian ngập tràn tiếng khóc:

Những trận mưa rào Bắc Mỹ không kỳ thị
nước mắt của những người phụ nữ da mầu
Mưa dài
cho mắt ai sâu
cho vai ai nặng những chiều thiếu quê
Những người phụ nữ di dân khóc để ngày kết thúc
trong khi những người phụ nữ bản xứ làm thế cho một ngày lên
Cái bồn tắm khóc để không ai còn bứt rứt
Keyboard khóc cho dân chủ thành hình
Tờ lịch khóc thì đời mới hết những thằng đốn mạt
Chiếc bút không khóc đến khi giá nhà chưa giảm
Ngày mai không bao giờ khóc cho ngày hôm nay
Chúng ta có còn khóc sau khi Thời gian là chủ nhân ông của vũ trụ này?
(Buồn muộn cùng thế kỷ-chương1)
Đỗ Quyên cũng khóc cho chính mình.

Cho ta khóc một hệ người
người là ta rồi đó
thơ cầm ngang lòng tay
tìm đau trong ngày mai
(Đống chữ-Thân 3)

Và mong một sự hóa thân:
“Thường là nhà thơ không thể tìm ra câu kết cho một bài thơ chỉ còn chờ câu kết
Muốn thân xác mình lấp vào.”(Bài thơ không thuộc về ai-Kết 16)

Thực ra đàng sau câu chuyện về Thơ, Đỗ Quyên trải lòng kín đáo và dữ dội về cuộc đời. Thơ Đỗ Quyên không phản ánh thực tại, có chăng là vài hình ảnh nơi ông đang sống hoặc vài chi tiết về gia đình (Đống chữ-Thân 8: Hôm nay đi tuyến Yonge-Spadina subway/ Tôi có Toronto với hai đường tàu điện ngầm…). Tuyệt nhiên không có hiện thực những năm ông sống ở Việt Nam, ở Nga, ở Đức…

Hiện thực trong thơ Đỗ Quyên là hiện thực tư tưởng, hiện thực hư cấu, tuy có thấp thoáng những mảnh đời thực, nhưng Đỗ Quyên chuyển hóa thành suy tư, thành nhận thức có phẩm chất triết học. Tuy vậy thơ Đỗ Quyên chưa đạt tới phẩm chất thơ tư tưởng, về căn cốt thơ Đỗ Quyên vẫn là thơ trữ tình.

Thấp thoáng trong dòng chảy trữ tình là sự lên tiếng nói. Khi là giọng sâu lắng đến tận cùng hiện sinh, khi là sự đối mặt quyết liệt với thực tại; khi là bài ca hào sảng trên đỉnh núi mây ngàn, lúc là giọng trầm thống như sóng gầm dưới đáy đại dương sâu thẳm. Đỗ Quyên lên tiếng nói về những vấn đề không thể lặng im.

Nhân loại bắt đầu vô nhân đạo
lúc mũi tên hiện đại hóa đạn chì
ngọn lao thành hỏa tiễn…
…quên cội nguồn, địa dư và sử ký
thực hành chức năng đồ tể
quáng mù…
Hãy khước từ những viên đạn
cũng như khước từ làm những viên đạn!

(Lòng Hải Lý –Bảy)

Thuyền nhân/ Bộ nhân/ Lâm nhân/ Tường nhân/ Phi cơ nhân
Các gan bàn chân không chứa hằng số sợ…/ …Tự - do - đi - lại
- nhân quyền ấy thua cả súc vật quyền,
này Liên hiệp quốc!

(Lòng Hải lý-Bốn)
…Nhân loại bốn loại người:
sợ và không sợ Sự thật,
biết và không biết Sự thật.
Đập tảng băng tập quán, rèm chủ thuyết,
ô giả dối được thiêng hóa

bằng chiếc cu trần
sẽ giết tiệt cái giả Sự thật.
(Lòng Hải lý-Phụ lục)
Thi thoảng lo lo
Tôi hay nhìn lại
Nguồn Chữ nghĩa của riêng mình số lượng đến đâu
và chất lượng ra sao
Sợ nhất là bị các tính từ xấu
(độc quyền, tha hóa, xuống cấp, mị dân, tham nhũng, bê tha,
chuôm chỉa, hối lộ, lạm phát, tham ô và sến)
đòi làm cha, làm mẹ!

(Đống chữ-Thân 1)
Nếu không Tàu, chúng ta đi về đâu?
Lời hỏi lớn
như hình nước Việt
cái móc câu dưới tảng thịt Trung Hoa
Bao giờ nước mình ngẩng mặt được
không vướng một tán cờ

(Đống chữ-Thân 5)

Con chung của chúng ta với Thời gian
sẽ là những đứa trẻ vạm vỡ
của Tự do
của Bình đẳng sẽ là những đứa trẻ duyên dáng
Hoàn cầu sẽ ế các cuộc chiến tranh -
cuộc chiến máu thịt hay cuộc chiến nước bọt, mồ hôi -
Tôn giáo quy về ba đạo chính: đạo Quá khứ, đạo Hiện tại, đạo Tương lai
Vì bị lột trần truồng
triết lý, chủ nghĩa chỉ còn biết che phần kín của mình
Môi trường, Sida, Mafia và Đói cũng bị kỷ nguyên Thời gian xếp vào hàng
chuyện nhỏ
(Buồn muộn cùng thế kỷ-chương1)

Sách Việt ngữ cho tụi con tìm ở đâu ba?
Ngoài dăm cuốn Hai Bà Trưng, một Ông Gióng... con thuộc từ ngày trong nước
Em con chờ các cuốn khác
nó vẽ lên lưng voi Hai Bà cái laptop và dí vào tay Ông Gióng cell phone
Tụi sắc dân khác bạn con không có vấn nạn nước non
nặng và ê chề đến vậy
Làm người gốc Việt thật nhiều điều đáng nói
vấn đề là nói làm sao

(Buồn muộn cùng thế kỷ-chương3)

Tình cảm với quê hương thật sâu nặng, những tứ thơ mới lạ giàu suy tư.

Những ai không còn quê hương
Sáng thức dậy theo giờ kẻ lạ
Chiều về những con đường xa
Đêm ngủ lưng không dính đệm

Những ai không còn quê hương
Cầm bút viết ra chữ huyết
Gặp mặt nhau lại thấy đau
Nhìn trời không thấy đáy đâu

Những ai không còn quê hương
Nghe lá rơi không còn nhẹ
Mây trôi là mây không về
Nước chảy đến cùng nước cạn

Những ai không còn quê hương
Bàn tay xòe không hết
Trái tim cong như trời cong
Con mắt chỉ nhìn thấy đất

Những ai không còn quê hương
Chồng vợ cái con bầu bạn
Một đời ngơ ngác chờ
Hai chữ quê hương về lại
(Bài thơ không thuộc về ai-Chương 2)

Thực ra, có thể tìm thấy ở mọi câu thơ của Đỗ Quyên những ẩn hiện tư tưởng. Và suy tư day dứt nhất của Đỗ Quyên là suy tư về thời gian, về nỗi cô đơn hiện sinh. Buồn muộn cùng thế kỷ là nỗi buồn thấm thía về thời gian: “Chúng mình bỏ nước/ là bỏ Thời gian/ 25 năm ngơ ngáo cái ngáo ngơ của những bài thơ không có dấu…”. Và Bài thơ không thuộc về ai là tiếng kêu bi thương về Thời gian, vì thơ không còn những gì đời còn, cả những ai không còn những gì đời còn... Những tư tưởng này kết đọng từ chính đời sống của anh. Dường như Đỗ Quyên cố ý tránh né “những vấn đề nhạy cảm” về chính trị và văn hóa. Cũng có thể, anh là người đã trải nghiệm bước chân trên mọi nẻo đường đời với tư cách một công dân toàn cầu, với tư cách “Những ai không còn quê hương”, thì những vấn đề anh quan tâm sẽ không giống với nhà thơ trong nước. Chẳng hạn:

Các phê bình gia thi ca lâu nay
(hẳn rớt môn tâm thần học?)
trong thơ
không đo thành thục độ điên
Phân loại thơ phiến diện vô ngần:
thơ cách mạng, thơ tình, thơ miền Nam-miền Bắc
thơ yêu nước, thơ hải ngoại, thơ trong nước,
thơ tỉnh lẻ, thơ chiếu trên, thơ toàn quốc,
thơ dada, thơ hậu hiện đại, thơ vân vân
Thiếu: thơ điên cấp 1, thơ điên cấp 2, thơ điên cấp cứu
Gọi thế e tranh chữ của y khoa
Nay đề nghị:
lấy đơn-vị-điên-trong-thơ là một Bùi Giáng (viết tắt: BG)

Tôi hiểu đây là khát vọng hội nhập toàn cầu hóa thơ Việt. Đỗ Quyên từng nhận xét thơ Việt có 21 đặc điểm, và thơ Việt còn chậm so với thế giới. Nhưng những nhà thơ trong nước đa phần không quan tâm chuyện này. Bởi thơ trong nước đựợc đặt trên một hệ tư tưởng và nghệ thuật khác, nên thơ mới được phân chia như Đỗ Quyên nhận xét.

4. NHỮNG NỖ LỰC CÁCH TÂN THƠ VIỆT

Ở thời điểm này (2017), sự ồn ào về “cách tân” thơ Việt đã lắng xuống sau khi phong trào “thơ khó hiểu”, thơ trình diễn… của những người trẻ như Nguyễn Thúy Hằng, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Hữu Hồng Minh…đầu thế kỷ XXI đã trở thành quá khứ. Bởi người ta không thấy được những cách tân của “thơ khó hiểu” đem đến những giá trị gì? Đơn giản vì, nếu công chúng không hiểu thì ai sẽ đọc thơ? Và thật dễ hiểu khi ít năm trở lại đây, công chúng trẻ xô vào đọc những trang chưa thành văn, chữ nghĩa chỉ để mơn trớn vuốt ve cảm xúc của cái tôi thời @. Xin đọc:

“Nếu là cây
Ta muốn làm cỏ dại
Sống hoang sơ chẳng phụ thuộc đất trời
Ta nhỏ bé nhưng ngang tàng mạnh mẽ
Ta mong manh nhưng chẳng ngại đêm dài…”
(Nếu- Iris Cao)
“Chán rồi cây ạ nắng yêu mây
Còn mưa sao cứ đứng mãi chờ
Thôi thì ta biết khi mây ấm
Là lúc nắng lên mưa cúi đầu…”
(Chán-Iris Cao)

Tôi sẽ chỉ nói về những cái riêng của Lòng Hải lý bên cạnh thơ trong nước trước “đổi mới”. Từ đây, người đọc có thể nhận ra những đóng góp của Đỗ Quyên cho thơ Việt trong xu hướng hội nhập toàn cầu hóa.
Lòng Hải lý không “phản ánh hiện thực” như thơ Xã hội chủ nghĩa. Đỗ Quyên không bám vào kỷ niệm, không nhào nặn lại những tứ thơ về làng quê, cánh đồng, con cò, giòng sông, hay những con đường Trường sơn mùa này đẹp lắm, như thơ trong nước, kiểu thơ “ăn mày quá khứ”. Đỗ Quyên sáng tạo một “hiện thực” tư tưởng-thẩm mỹ, xin đọc:

Những ai không còn nơi hẹn
Khi cái lò gạch cũ mới rồi
Chí và Thị tối ngày ăn cơm tiệm
Nằm salon xem vidéo đời lá chuối cháo hoa xưa
Đừng vào các trang website năm sao (tốn thời gian, tiền bạc hơn cả các khách sạn năm sao)
Thị dâm không phải là thương dân yêu nước
Quan dâm không phải là vì dân chủ tự do
Xưa sau ba lần hẹn mới có thể hành động
Hẹn là hành động
Bây giờ
Như mặt trời
Mọc lên tức là chiếu sáng
(Bài thơ không thuộc về ai-Chương 2)
Đoạn thơ có bóng dáng của hiện thực, nhưng nếu bám vào cái hiện thực ấy để đọc thơ, thì hiện thực lập tức vuột khỏi tay người đọc. Cấu trúc logic của đọan thơ bị phá vỡ, khác hẳn với thơ trước đây lệ thuộc vào cấu trúc. Vì thế không thể kết nối logic Những ai không còn nơi hẹn với, thị dâm, quan dâm, với thương dân yêu nước, với dân chủ tự do, với mặt trời/ Mọc lên tức là chiếu sáng. Chỉ có duy nhất một chữ “hẹn” làm nhiệm vụ giữ cho đoạn thơ không phân rã. Nhưng nếu vượt qua được ngôn ngữ tường minh của văn bản, người đọc sẽ thấy tư tưởng hiện lên.

Người đọc thấy rõ trong tập trường ca Lòng Hải lý một vài đặc điểm của văn chương hậu hiện đại. Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng nhận xét: “Cấu trúc, xét về toàn bộ, không phải là điểm mạnh của trường ca Đỗ Quyên. Các tác phẩm hậu hiện đại thường có cấu trúc đa chiều; nhưng đa chiều không phải là lỏng lẻo… Nói một cách dễ hiểu hơn, anh có xu hướng đi về phía chủ quan hơn là phía khách quan. Điều này thể hiện trên hai hình thức: trường ca của anh nặng về phía trữ tình, và nhân vật thu hẹp lại chỉ còn là một người, đó là người nói (speaker). Người nói hay người kể chuyện trong trường hợp này lại trùng với tác giả (author). Thứ hai là ngôn ngữ của anh, trong những đoạn thơ không thành công, nặng về tán thán, tuyên bố, kể lại, thiếu tính trực tiếp vốn là điểm mạnh trong mạch thơ Đỗ Quyên. “[6]

Tôi không rõ có phải nhà thơ Nguyễn Đức Tùng nhận diện hậu hiện đại ở xu hướng khách quan, thông qua ngôn ngữ và người kể chuyện hay không? Tôi hiểu ngược lại, chính cấu trúc lỏng lẻo (như đã nói ở trên) của trường ca Lòng Hải lý là một đặc điểm hậu hiện đại. Hiện thực phân mảnh, sự xóa bỏ ranh giới giữa văn chương và đời thường, trộn lẫn thể loại, sự phi tâm hóa, ngôn ngữ xô bồ (cả thanh lẫn tục), sự giải thiêng những “đại tự sự” (Thí dụ, Đỗ Quyên diễu nhại về việc tự sát của các nhà thơ, về giá trị của thơ ca, về những chủ đề lớn như yêu nước, cách mạng, nhân đạo chủ nghĩa, tự do, nhân quyền, tôn giáo…) là dấu ấn rất đậm trong thơ Đỗ Quyên, khiến thơ Đỗ Quyên rất khác với thơ trong nước trước đổi mới. Dù vậy Đỗ Quyên biết giữ sự chừng mực cần thiết để thơ vẫn là thơ, kiểu thơ tư tưởng, không phải là “rác”. Đỗ Quyên cũng tự kềm chế diễn ngôn để tinh thần “giải thiêng” không gây sốc cho người đọc có não trạng quen ”thần tượng hóa”.

Nhân loại bốn loại người:
sợ và không sợ Sự thật,
biết và không biết Sự thật.
Đập tảng băng tập quán, rèm chủ thuyết,
ô giả dối được thiêng hóa
bằng chiếc cu trần
sẽ giết tiệt cái giả Sự thật.
(Lòng Hải lý-Phụ lục)

Đây là sự kềm chế:

Ơn ba mẹ sang đây
Con được chọn mình
chọn đất ở cho mình
Bà lẩm bẩm "Số chúng mày đỏ hơn ông cha!"
Những lời sánh so con rất ngại

Con có thời gian của con. Cha ông có của cha ông
So sánh là hủy diệt
(Buồn muộn cùng thế kỷ-chương 3)

5. NHỮNG GÌ ĐỌNG LẠI

Tôi không bận tâm lắm về “truyền thống” hay hậu hiện đại trong trường ca Lòng Hải lý của Đỗ Quyên. Điều tôi tìm kiếm là trường ca này có giá trị gì về tư tưởng và nghệ thuật. Và Đỗ Quyên có thể đóng góp gì cho thơ Việt đương đại?

Viết trường ca khó, trước hết là làm sao giữ cho được giòng cảm xúc luôn trào tuôn như núi lửa phun nham thạch, giữ cho được mạch tư tưởng dũng mãnh như sóng ngầm đáy đại dương và có được một vốn từ vựng như lúa chất đầy kho. Đỗ Quyên có thừa những phẩm chất này.

Nhờ sử dụng những “thủ pháp” của văn chương hậu hiện đại, Đỗ Quyên thay đổi liên tục cách thể hiện con chữ trên văn bản; thay đổi, trộn lẫn thể loại (thơ tự do, Lục bát, thơ Lãng mạn…); thay đổi nhiều giọng điệu trần thuật; đổi vai Ta nhiều lần trong đối thoại với Em, với Mẹ, với Con, với nhà thơ tự sát và cánh nhà thơ chưa tự sát, với súng đạn, thòng lọng, và với đủ loại người nhà thơ gặp trên đường Hôm nay đi tuyến Yonge-Spadina subway.

Bỏ qua nhiều đoạn triền miên suy tư về những điều riêng tư, người đọc có thể gặp được nhiều đoạn thơ hay về tứ, xúc động về tình, trăn trở về tư tưởng; và một ấn tượng rất mạnh về chủ thể trường ca: Tác giả Đỗ Quyên. Bên dưới cái lạnh lùng như băng, cái lý trí căng như thép, chất trí tuệ khô khan, là con người tình cảm, yêu tha thiết cuộc sống, bi phẫn trước bao nhiêu cảnh đời đau thương, khao khát và tràn đầy một niềm tin lao mình vào ngày mai, Sống và Thơ.

Và điều còn lại là một hồn thơ Việt thuần khiết:

Chữ còn - Thơ còn
Còn tình
Là còn bạn còn ta
Còn vợ còn con còn cửa còn nhà
Dẫu có còn tha phương,
có còn ghim lòng một ngày về quê về nước
lạy mồ mẹ mả cha vái hồn cúng vía ông bà
tìm thăm khuôn trời cũ
hố rác nào xưa chứa bài thơ tình Số 1...
…Để ta còn Thơ
như mái chèo đòi sông nước,
như lá đòi thu
ngoài cửa sổ hôm nay.
(Đống chữ-Thân 1)

Tháng 4 năm 2017


________________________________

[1] vanviet.info/tho/bon-muoi-nam-tho-viet-hai-ngoai-46-do-quyn/
[2] Đỗ Quyên – Văn là chữ người viết mãi mà thành
http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19560
[3] http://4phuong.net/ebook/48259157/truong-ca-do-quyen.html
[4] Phi Hà - Đỗ Quyên và trường ca, những ghi nhận bước đầu:
http://trannhuong.net/tin-tuc-9520/do%CC%83-quyen-va%CC%80-truo%CC%80ng-ca-nhu%CC%83ng-ghi-nha%CC%A3n-buo%CC%81c-da%CC%80u.vhtm
[5] (Nếu- Người yêu cũ có người yêu mới-Iris Cao.tr.126.Nxb Văn học 2014, in lần thứ tư)
[6] Talawas 2008-Nguyễn Đức Tùng-Trường ca Đỗ Quyên

Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017

PGS-TS ĐỖ LAI THÚY-NHÀ PHÊ BÌNH LAI GHÉP

Lý luận và phê bình văn học-Diện mạo của một thời
PGS-TS ĐỖ LAI THÚY,
Nhà phê bình lai ghép


Bùi Công Thuấn


PGS-TS Đỗ Lai Thúy


PGS-TS Đỗ Lai Thúy là Tiến sĩ Lịch sử Văn hóa Nghệ thuật, Phó Giáo sư Văn học. Ông viết nhiều công trình về văn hóa và phê bình văn học. Lã Nguyên nhận xét: “Nhìn vào nhan đề sách của Đỗ lai Thúy, độc giả có thể thấy rõ, trong hoạt động khoa học, phạm vi quan tâm của ông khá rộng, mở ra ở nhiều khu vực. Ông xuất hiện trước độc giả chủ yếu như một nhà văn hóa học. Ông có nhiều công trình nghiên cứu, phê bình văn học. Nhưng ngay ở đây, văn học chỉ là chất liệu khảo sát để ông đưa ra những kết luận về văn hóa”[1].

Tôi quan tâm đến ông với tư cách ông là nhà phê bình văn học. Ở ông, có sự lai ghép Văn hóa học với văn học, lai ghép Phân tâm học với Thi pháp học, lai ghép nghiên cứu hệ hình với cách nhìn truyền thống. Ông đề xuất nhiều ý tưởng trong đó có phương pháp phê bình ông gọi là phê bình văn học từ văn hóa: “thiết nghĩ, đã đủ điều kiện lý luận để nâng cấp phê bình văn học từ văn hóa thành một phương pháp với tư cách đầy đủ…Phê bình văn học dù một tác phẩm, tác giả hay một trào lưu đều phải tìm hiểu trước tiên là hệ thống văn hóa mà tác phẩm, tác giả hay trào lưu ấy thuộc vào.”[2]

1.NHÀ PHÊ BÌNH CÓ THAM VỌNG LẬP THUYẾT

Tác giả Lê Sử (khoa Ngữ văn- Đại học Vinh- Nghệ An) nhận xét Đỗ Lai Thúy là nhà phê bình Thi pháp học: “có thể nói Con mắt thơ là một công trình nghiên cứu phong cách các nhà Thơ Mới bằng con đường Thi pháp học… Trong phê bình, Đỗ Lai Thuý, trước hết, chứng tỏ mình là một nhà khoa học, ông đặt giả thuyết, vận dụng các nguyên lý của phê bình thi pháp học, tìm con đường, phương án giải quyết mới, xây dựng mô hình, nỗ lực vận dụng các thao tác khoa học… Mục đích là để khai phá ra những chiều kích thẩm mỹ mới của tác phẩm nghệ thuật”[3]

Lã Nguyên (PGS-TS La Khắc Hòa) thì nhận xét: “Đỗ Lai Thúy gắn bó với Phân tâm học đã hơn hai mươi năm nay và rất mực thủy chung với nó…Đỗ Lai Thúy đã góp phần đưa phân tâm học trở lại với nghiên cứu văn học Việt Nam, và ở những công trình nghiên cứu theo hướng ấy, ông đã tạo ra nhiều đột phá: Thứ nhất: Sự phát hiện phân tâm học trong chất liệu văn học. Thứ hai: Mở ra hướng phê bình thi pháp phân tâm học.”; “Đỗ Lai Thúy tự xếp mình vào nhóm “phê bình phân tâm học văn bản”[13]. Nhưng xem cách phân tích văn bản, thấy hóa ra ông vẫn trung thành với thi pháp học. Cho nên, có thể gọi phê bình phân tâm học của Đỗ Lai Thúy là phê bình Thi pháp Phân tâm học.” [1-đd]

GS-TS Trần Đình Sử nhận diện Đỗ Lai Thúy trong cuốn “Bút pháp của ham muốn” như sau: “Công trình này, theo tôi có thể gọi là thi pháp học phân tâm học, bởi phân tâm học là góc độ nghiên cứu, còn mục đích khám phá của tác giả là bút pháp, là thế giới nghệ thuật của thi sĩ.”[4]
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã định vị Đỗ Lai Thúy là nhà phê bình Thi pháp Phân tâm học. Theo tôi, ông tập trung phân tâm tác giả, không phải phân tâm văn bản.

Ông cho biết, nếu như cái khác là bản mệnh của nghệ thuật, thì, quy luật tạo ra cái khác, đó là tính lai ghép. Tính lai ghép trong phê bình cũng cái độc đáo trong ngòi bút Đỗ Lai Thúy. Ông vận dụng tất cả các phương pháp phê bình để thiết lập thành mô hình tiếp cận tác phẩm. Trong cuốn “Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy”, mô hình tiếp cận của ông gồm ba bước: Tiếp cận tiền văn bản, văn bản và hậu văn bản.

Ở mỗi bước ông thực hiện như sau:

Tiếp cận tác phẩm từ tác giả: Phê bình tiểu sử học, Phê bình văn hóa-lịch sử, Phê bình xã hội học, Phê bình phân tâm học.
Tiếp cận tác phẩm từ văn bản: Phê bình phong cách học, Phê bình Thi pháp học,Phê bình Cấu trúc-Ký hiệu học,Phê bình phân tâm học, Phê bình văn học từ hệ thống văn hóa.

Tiếp cận tác phẩm từ người đọc: Phê bình theo lý thuyết tiếp nhận, Phê bình hậu/ Giải cấu trúc. Phê bình Thông diễn học, Phê bình Nữ quyển luận, Phê bình hậu thực dân, Phê bình phân tâm học.

TS. Lê Thị Thanh Tâm (ĐH KHXH&NV TPHCM) nhận xét rất hay về cách viết “lẩy triết” của Đỗ Lai Thúy: “thao tác lẩy triết nhuần nhuyễn đến khó tin của tác giả khi động chạm các vấn đề tác giả, tác phẩm thơ.”; “Đằng sau (hay là phía trong) những bình luận phảng phất tinh thần triết lý của Đỗ Lai Thúy là sự chuyển hóa nhuần nhuyễn các phát ngôn triết học, tôn giáo mà tác giả đã lĩnh hội”; “Đỗ Lai Thúy đúng là người kể chuyện về số phận của nàng thơ bằng thi tứ.”; [6]

Sự nhận diện ngòi bút phê bình của Đỗ Lai Thúy không mấy khó. Đỗ Lai Thúy cũng lưu ý những giới hạn của sự định danh này. Ông nói về công việc viết phê bình văn học của mình: “…dù là ngưởi mê lý thuyết, nhưng những hiểu biết lý thuyết của tôi, chủ yếu là những tri thức ‘tiên thiên’, có tính chất siêu nghiệm, nên khi phê bình, tôi bao giờ cũng xuất phát từ thực tiễn tác phẩm, dựa vào trực giác nghệ thuật, chỉ đến khi cần xây dựng các mô hình nghiên cứu, cần khoa học, tôi mới cầu viện đến lý thuyết…”(Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy)

Nhưng nếu đọc kỹ Đỗ Lai Thúy, người đọc có thể nhận ra Đỗ Lai Thúy có một nỗ lực muốn lập thuyết trong phê bình văn học. Để thực hiện điều này, ông tập trung vào lập luận, ông cố phân tích vấn đề sao cho sâu sắc, có tính khoa học, viết đầy tự tin về mỗi luận điểm của mình (giống kiểu viết của Bakhtin, Sartre hay Derrida…), và phân tích tác phẩm minh họa cho luận thuyết. Cho nên điều mà Ts Lê Thị Thanh Tâm nhận xét rằng “Đằng sau (hay là phía trong) những bình luận phảng phất tinh thần triết lý của Đỗ Lai Thúy là sự chuyển hóa nhuần nhuyễn các phát ngôn triết học, tôn giáo mà tác giả đã lĩnh hội”, thực ra là cách viết có mục đích lập thuyết.

Tác giả Mai Anh Tuấn, người tự nhận mình là một người đọc thực dụng, khi đọc Thơ như là mỹ học của cái khác đã nhận xét về khát vọng lập thuyết của Đỗ Lai Thúy như sau:

khát vọng lập thuyết, với các bước cơ bản: đưa ra một quan niệm mỹ học của thơ, xử lí các nguồn thơ để mô hình hóa diễn trình thơ, chứng minh sự đặc sắc của thơ bằng việc khu biệt hóa những giá trị thơ ca tiêu biểu. Các đường hướng, thao tác này tập trung xoay quanh phạm trù “cái khác” - từ góc nhìn văn hóa, xã hội, triết học và nghệ thuật, đến góc nhìn mỹ học thơ ca…nhà phê bình này ý thức rất rõ việc phải hợp lí hóa, cấu trúc hóa quan điểm của mình”[7]

Chỉ cần đọc phần luận giải của Đỗ Lai Thúy về “cái Khác” thì có thể nhận ra tất cả mặt mạnh và mặt yếu về lý thuyết của ông:

Áp dụng vào thơ, đặc biệt thơ Việt, cái Khác còn thêm một số thuộc tính cụ thể hơn. Thơ, trước kia, là một tổ chức ngôn ngữ đặc biệt, không bình thường so với văn xuôi, nhất là với lời ăn tiếng nói hàng ngày. Bởi thế, thơ, tự thân nó, đã là một cái Khác. Cái Khác này đồng nghĩa với cái tiểu ngạch (nhỏ, lẻ, phụ), cho nên luôn có nguy cơ bị cái chính ngạch (to lớn, đồng bộ, chính thức) đồng hóa. Cho nên, cái Khác, một mặt phải chống lại sức hút của quyền lực trung tâm của cái chính thống và chính thức để bảo vệ sự tồn tại độc lập của mình. Mặt khác, nó phải chống lại chính bản thân nó. Bởi lẽ, cái Khác, sau một thời gian bị nghi kị, ghẻ lạnh, bắt đầu được chấp nhận, rồi quảng diễn ra đại chúng, thì đã trở thành quen mòn, không còn là khác nữa. Vì thế, để bảo vệ mình mãi là một cái Khác, thơ trong tiến trình của nó, phải luôn luôn đổi khác. Thơ Việt, mỗi lần đổi khác, ngoài sự tự thân vận động của nó, bao giờ cũng phải có sự trợ lực, nhiều khi là cú hích quyết liệt, của các yếu tố bên ngoài. Thơ Việt, bởi vậy, luôn là sự lai ghép. Nó lớn lên bằng những yếu tố ngoại sinh, tức cái Khác của cái Khác. Thậm chí, có thể nói, thơ Việt khác từ trong trứng nước, từ ở những thành phần cấu tạo nên nó…

…Sự gặp gỡ giữa thơ và hệ hình hậu hiện đại không chỉ đưa cái Khác lên thành phạm trù chủ đạo của mỹ học hậu hiện đại, mà còn, quan trọng hơn, giúp ta nhận thức được chính cái Khác mới là thực chất của thơ. Bởi thế, có thể lấy cái Khác làm hệ quy chiếu để tư duy lại tiến trình thơ, từ đó, đưa ra một cái nhìn khác, một lối viết khác lịch sử thơ. Thơ Việt, cho đến nay, ít nhất có đến 11 lịch sử: 1) Thơ chữ Hán, 2) Thơ chữ Nôm, 3) Thơ quốc ngữ lúc giao thời, 4) Thơ Mới, 5) Thơ đầu kháng chiến chống Pháp, 6) Thơ Nhân văn và hậu Nhân văn, 7) Thơ thành thị miền Nam 1955 - 1975, 8) Thơ chính thống và chính thức, 9) Thơ Đổi mới và hậu Đổi mới, 10) Thơ đương đại, 11) Thơ hải ngoại…”(Thơ như là mỹ học của cái khác)


Ông ôm đồm, bao biện trong luận thuyết của mình mọi thứ lý thuyết (mà ông không ghi nguồn) chỉ để khẳng định “Chính cái khác mới là thực chất của thơ, và, có thể lấy cái Khác làm hệ quy chiếu để tư duy lại tiến trình thơ”. Có thể tìm thấy lý thuyết về Cái Khác (The Others) từ Freud, F. Saussure, trường phái Hình thức Nga, Edward Said, Derrida, Chủ nghĩa Hậu thực dân,…Vì thế cái Khác không phải là lý thuyết do Đỗ Lai Thúy đề ra. Nó cũng không phải là thực chất của thơ, càng không phải là hệ quy chiếu để tư duy lại tiến trình thơ. Khi nói đến bất cứ tác giả văn học nào (nhà thơ, nhà văn), nhà phê bình, nhà nghiên cứu luôn phải tìm ra cá tính sáng tạo của họ, phong cách của họ. Bản thân cá tính sáng tạo và phong cách chính là Cái Khác. Nâng vai trò của Cái Khác lên thành một lý thuyết để từ đó làm hệ quy chiếu nghiên cứu, phê bình văn học, tôi nghĩ cả về “lý thuyết và phương pháp” đều không có gì mới, mà chỉ là mượn khái niệm của người khác đề “làm mới” mình mà thôi.

Ông viết về nhiều nhà thơ trong nhiều cuốn sách khác nhau, mỗi cuốn cần có cái gì khang khác với cuốn khác. Thực ra, chỉ là khác về cách đặt tên sách. Những nhà thơ trong Bút pháp của ham muốn (Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Gia Thiều; Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoàng Cầm) cũng khác nhau như các nhà thơ trong Thơ như là mỹ học của cái khác (Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt, Bùi Giáng). Trong Hé gương cho người đọc, Đỗ Lai Thúy cũng dùng Phân tâm học để lý giải về Nguyễn Du, như là dùng phân tâm học trong Bút pháp của ham muốn. Khi ông nhận định rằng: “Cái Khác ở thơ Thanh Tâm Tuyền là thơ tự do”thì tôi hoàn toàn không còn nghi ngời gì nữa rằng ông không hiểu thơ Thanh Tâm Tuyền. Khi nói về thơ Hậu hiện đại, ông luận: “thơ hậu hiện đại đích thực không dừng lại ở cấp độ thủ pháp, mà đã tiến tới cấp độ quan niệm thực tại. Có như vậy mới sản sinh ra được cái Khác hậu hiện đại. Một cái Khác không phải là khác biệt, khác lạ trong quan hệ với cái ngoài nó, mà là một cái Khác trong quan hệ với chính nó, mang tính tự thân, là sản phẩm của một cá nhân tự lập và tự trị. Chính cái Khác này không chỉ cứu sống cái chết của tác giả, mà còn bội nhân tác giả, vì giờ đây người đọc cũng là tác giả. Một cái Khác như vậy, hẳn không nằm sẵn trong bài thơ, cũng không nằm sẵn trong đầu tác giả, mà được sinh ra trong tiến trình bập bênh giữa tác giả, văn bản và người đọc. Thơ trở thành mỹ học của cái Khác.”Những đoạn “lập thuyết” như thế này chỉ làm người đọc hoa mắt mà thôi, vì nó vô nghĩa và buộc tôi phải nghi ngờ sự thẩm thấu các lý thuyết văn học của Đỗ Lai Thúy. Bởi làm gì có cái khác “không nằm sẵn trong bài thơ, cũng không nằm sẵn trong đầu tác giả”. Trước đó ông đã khẳng định: “thơ, tự thân nó, đã là một cái Khác “. Nói cách khác, không có tác phẩm thì làm gì có tác giả và có người đọc!

Các nhà thơ khác nhau ở kiểu tư duy nghệ thuật, ở bút pháp, phong cách, ở cách sử dụng ngôn ngữ, ở nội dung tư tưởng, ở “cái tạng” riêng…, những điều này do cá tính sáng tạo làm nên và văn hóa, thời đại chi phối. Đọc câu văn: “thơ Việt khác từ trong trứng nước, từ ở những thành phần cấu tạo nên nó…”, thực sự tôi không hiểu Đỗ Lai Thúy định nói gì. Thơ Việt khác từ trong trứng nước là khác với cái gì? Và những thành phần cấu tạo nên nó là thành phần nào? Ông định nói về sự khác biệt của 11 lịch sử thơ Việt mà ông tự xếp loại chăng (Thơ chữ Hán, thơ chữ Nôm, thơ chữ Quốc Ngữ…). Nếu vậy, cần phải xem lại tính khoa học của việc xếp loại này.

Có thể nói việc lập thuyết về “Cái Khác” của Đỗ Lai Thúy không giúp lý giải bản chất nghệ thuật của thơ ca, vậy sử dụng thuyết này (của Freud, Saussre, Said, Derrida, lý thuyết tiếp nhận), Đỗ Lai Thúy có dụng ý gì? Đỗ Lai Thúy viết: “Mỗi cái Khác làm nên một lịch sử, một lịch sử thơ./…nhìn thơ Việt dưới dạng những lịch sử thơ có thể thấy được sự phong phú, đa dạng của thơ. Mỗi lịch sử đều có ý nghĩa và giá trị của nó, kể cả các dòng thơ nhỏ, lẻ, phụ mà trong cái nhìn nhất thể hóa không đáng coi là lịch sử. Đồng thời cho thấy sự vận động đa chiều và đan xen vào nhau của một lịch sử số nhiều. Cái nhỏ, phụ như là cái Khác rồi cũng lớn lên, phổ thông hóa, không còn là cái khác nữa, nhưng lại làm điều kiện cho một cái Khác khác ra đời. Như vậy, sự khác nhau của mỗi lịch sử chỉ là ở mức độ tự phản tỉnh của nó. Với sự đa lịch sử mà không có lịch sử nào là trung tâm như vậy, thơ Việt vẫn là một tổng thể, nhưng là một tổng thể mở: tổng thể phi tổng thể.”

Đoạn văn trên giúp người đọc nhận ra Đỗ Lai Thúy muốn viết lịch sử thơ Việt theo tiêu chí của Cái Khác, đồng thời, ông cũng giải trung tâm thơ Việt. Ông ôm vào thơ Việt tất cả mọi ngọn nguồn sáng tác trong mọi không gian, thời gian (không gian địa lý, không gian xã hội, không gian văn hóa, không gian song ngữ, không gian nghệ thuật hàng xóm, không gian công cộng, không gian mạng- trong nước, hải ngoại, trung tâm, ngoại biên, cái tiểu ngạch (nhỏ, lẻ, phụ), cái chính ngạch...). Đó là cái nhìn “hợp lưu”, đa nguyên, và cái nhìn Giải trung tâm của Hậu hiện đại.

Nguyễn Mạnh Tiến trong tham luận Tọa đàm ‘Đỗ Lai Thúy và Thơ như là mỹ học của cái khác” do Khoa Viết văn – Báo chí (ĐHVH HN) tổ chức ngày 26/4/2013 nhận xét: “Hiểu theo nghĩa đó, nhà thơ cách tân thơ – làm mới thơ, vì thế phải được định nghĩa như người làm khác đi mỹ học thơ. Và vì vậy, thay vì gọi là người đổi mới thơ, từ nay, ta gọi là người đổi khác thơ. Cái khác mang tính bổ sung, vì thế, từ đây, lịch sử thơ cho phép không loại trừ bất cứ nỗ lực đổi mới/khác thơ ở trong mọi không gian thơ Việt khác nhau. Cái khác, thậm chí, còn gọi mọi nỗ lực về cùng một mâm, nằm cùng một chiếu, đôn trên vai cái chung gọi là nền văn học dân tộc.”[5-đd]. Người đọc đương thời hiểu những ý nghĩa không nói ra của cả Đỗ Lai Thúy và Nguyễn Mãnh Tiến về những thực thể thơ Việt đương đại. Nguyễn Mạnh Tiến kết thúc bài viết bằng lời kêu gọi: “người ta có quyền nghi ngờ mỹ học của cái Khác, hay phương pháp hệ hình như quan niệm của Đỗ Lai Thúy. Hơn thế, tôi còn thiết tha muốn độc giả nên biết khoác cho sự đọc của mình đôi cánh của hoài nghi. Vì biết hoài nghi, đó là con đường vương đạo dẫn đến cái khác trong nhận thức...”

Sự nghi ngờ những “lý thuyết”, những nhận định của Đỗ Lai Thúy là có cơ sở. Sau đây là một trường hợp cụ thể:

Đỗ Lai Thúy đề xuất phương pháp tiếp cận văn học từ văn hóa. Ông viết: “...thiết nghĩ, đã đủ điều kiện lý luận để nâng cấp phê bình văn học từ văn hóa thành một phương pháp với tư cách đầy đủ. Phương pháp phê bình này có nhiều thuận lợi, bởi nó dẫn nhà phê bình (cũng như người đọc) đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ cái biết nhiều đến cái biết ít, từ cái toàn thể đến cái bộ phận bằng con đường loại suy khoa học. Bởi lẽ, văn học với tính cách là một yếu tố của hệ thống văn hóa thì phải chịu sự chi phối hoặc sự quy định (chứ không phải quan hệ nhân quả đơn thuần của quyết định luận) của văn hóa. Phê bình văn học dù một tác phẩm, tác giả hay một trào lưu đều phải tìm hiểu trước tiên là hệ thống văn hóa mà tác phẩm, tác giả hay trào lưu ấy thuộc vào.”[8]

Mặc dù ông có dẫn Truyện Kiều, bám víu M.Bakhtin, thì những luận điểm của ông cũng bị nhà phê bình Nguyễn Hòa bẻ gẫy[9]: Từ cách Đỗ Lai Thúy đặt vấn đề không thỏa đáng, Nguyễn Hòa viết: “phải chăng để luận chứng cho sự ra đời của một “phương pháp phê bình mới”, ông đã dựa trên một tiền đề lý luận - thực tiễn còn mang màu sắc chủ quan và cảm tính?”; việc Đỗ Lai Thúy Lý giải quan hệ giữa văn hóa và văn học, Nguyễn Hòa yêu cầu: “tôi nghi ngờ điều Đỗ Lai Thuý cho rằng văn học: “Sáng tạo những giá trị mới cho bản thân nó và cho hệ thống. Sáng tạo lớn thì có thể dẫn tới sự thay đổi của hệ thống”. Kính mong PGS TS Đỗ Lai Thuý thử đưa ra một dẫn dụ để chứng minh trong một thời kỳ nào đó của lịch sử loài người, đã có lúc các sáng tạo văn học từng dẫn tới sự thay đổi của hệ thống văn hóa?”, rồi Nguyễn Hòa lấy làm tiếc: “Thật đáng buồn, là một tác giả như PGS TS Đỗ Lai Thúy - người thường tỏ ra khá am tường về văn hóa qua một số bài viết, lại không nắm được các vấn đề lý luận - thực tiễn có tính bản chất trên đây hay sao?”; Khi Đỗ Lai Thúy đưa ra luận điểm: “cách tiếp cận văn minh. Cho đến nay loài người đã trải qua ba giai đoạn văn minh lớn, cơ bản: Văn minh gốc tự nhiên, văn minh gốc kỹ thuật và văn minh gốc con người.”Nguyễn Hòa thưa lại: “Tôi đồ rằng, do chưa tìm hiểu quan hệ văn hóa - văn minh, nên PGS TS Đỗ Lai Thuý đã “gán” cho văn minh những ý nghĩa của chính văn hóa… Người ta nghiên cứu văn hóa để qua đó tìm hiểu văn minh, thì PGS TS Đỗ Lai Thuý lại đi theo chiều ngược lại, ông lấy văn minh làm “đột phá khẩu” để xem xét văn hóa.”

Nguyễn Hòa kết luận: ”Thiết nghĩ, tình trạng hời hợt, cảm tính, thiếu vắng một số căn cốt lý thuyết cơ bản về đối tượng cùng những luận giải mang màu sắc “hư vô” của PGS TS Đỗ Lai Thuý mà tôi phân tích trên đây có nguồn gốc từ việc ngay ở điểm xuất phát, ông đã không xác lập một khái niệm văn hóa có tính chất công cụ, bảo đảm cho sự nghiên cứu luôn luôn nhất quán về mặt khuynh hướng. Khái niệm ấy, có thể là do ông vay mượn của người khác hay do ông tự tạo lập, thì chí ít ra nó cũng không đẩy ông tới các kiến giải nhì nhằng, lúc thì coi văn hóa có cùng cấp độ với văn minh, lúc lại “gán” cho văn minh các phẩm chất của văn hóa, không nhận thấy hệ thống xã hội cũng là bộ phận cấu thành của văn hóa, đặc biệt là “sáng tạo” ra ý tưởng oái oăm về sự xung đột và chống lại của văn học đối với văn hóa…!”;

Cuối cùng, dẫu bài viết này là khá gay gắt, tôi vẫn không thể không công bố. Bởi tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta cần đặt mọi “phát kiến khoa học” dưới sự soi chiếu của khoa học. Một ngày mà tinh thần phản biện trong khoa học còn bị suy giảm bởi thói quen “dĩ hòa vi quý” hay nể nang thì ngày đó, chúng ta còn phải đối mặt với những sản phẩm “giả khoa học” chỉ gây cản trở, nếu không nói là làm nhiễu loạn nhận thức chung của cộng đồng nghề nghiệp và công chúng.”

Không chỉ có nhà phê bình Nguyễn Hòa “phản biện” Đỗ Lai Thúy, GS-TS Trần Đình Sử cũng “phản biện” rất thẳng thắn về bài viết “Khi người đọc xuất hiện” của Đỗ Lai Thúy [10], dù trước đó ông vui mừng giới thiệu Bút pháp của ham muốn.

GS-TS Trần Đình Sử nhận định khái quát bài viết:

Trong bài này anh Thuý muốn xác lập cơ sở lý luận cho một hệ hình phê bình văn học hiện đại, tức tiếp cận tác phẩm văn học từ phía người đọc, giới thiệu vai trò quan trọng của thông diễn học đối với nghiên cứu, phê bình văn học hôm nay. Đáng tiếc là nó có quá nhiều chỗ trái với logich khoa học và thực tế, chứng tỏ một lối làm việc (tuỳ tiện) đáng buồn…/ Quan niệm về “người đọc cổ điển” của anh là một đề xuất tuỳ tiện.”;
“Đỗ Lai Thuý thiếu kiến thức về người đọc trung đại và hoạt động đọc của họ cho nên có nhiều chỗ sai
…”

Hai là, quan niệm cho rằng người đọc cổ điển chỉ biết đọc thụ động, họ đọc văn như là “bắt vòi sang đấy (tác phẩm) là tiếp nhận được mọi thứ theo nguyên tắc bình thông nhau” (nguyên văn của anh Thuý!) cũng khó tin. Lí thuyết của Đỗ Lai Thuý chỉ là sự suy diễn bắt nguồn từ một quan niệm tiến hoá thô thiển, thiếu hẳn tri thức và quan điểm lịch sử…”

“Điểm thứ ba. Sự đối lập người đọc cổ điển và người đọc hiện đại theo bốn điểm như trên sở dĩ không đúng chủ yếu là do Đỗ Lai Thuý, tuy trích dẫn nhiều tên tuổi nổi tiếng phương Tây, song tôi nghĩ, anh chỉ mới hiểu chung chung, chưa cụ thể về hoạt động đọc và bản chất, cơ chế của sự đọc…”
“Điểm thứ 5. Đỗ Lai Thuý dựa vào lí thuyết tiếp nhận, thông diễn học, hiện tượng học để xác lập khái niệm người đọc hiện đại… Ở đây Đỗ Lai Thuý có ít nhất 3 ngộ nhận

Anh không phân biệt cái chung, cái riêng, chỗ thì đem cái chung quy cho cái riêng, chỗ thì lại đem cái riêng quy thành cái chung. Thật không có ai tư duy khoa học như Đỗ Lai Thuý.


GS-TS Trần Đình Sử kết luận: “Điều chúng tôi muón nói là làm khoa học thì không được tuỳ tiện, lại càng không được hư cấu.”

Cả nhà phê bình Nguyễn Hòa và GS-TS Trần Đình Sử đều chỉ ra sự thiếu kiến thức, lối làm việc tùy tiện và những “sáng tạo, hư cấu” ra những ý tưởng oái oăm, tạo ra những sản phẩm giả khoa học, của Đỗ Lai Thúy khi ông muốn “lập thuyết”.

Như vậy, xét từ cách tiếp cận thơ theo hệ hình, theo tiêu chí của Cái Khác, đến cách tiếp cận văn học từ văn hóa của Đỗ Lai Thúy, nhìn ở góc độ “lập thuyết”, Đỗ Lai Thúy còn cần nhiều thời gian nghiên cứu, nghiền ngẫm hơn nữa, và nhất là đừng tự huyễn hoặc với chính mình. Rất tiếc là thời đại đã vượt qua ông rất xa.

2.NĂNG LỰC CỦA NHÀ PHÊ BÌNH

Tôi quan tâm đến những bài phê bình văn học của Đỗ Lai Thúy. Bởi ở đó giúp tôi nhận ra tài năng của nhà phê bình.

TS Lê Thị Thanh Tâm cho rằng: “phần viết về Lê Đạt (theo đánh giá của cá nhân tôi) là đáng giá nhất… Đây là phần viết tốt nhất của Đỗ Lai Thúy bởi cách viết bông phèng thuần thục và cảm nhận tinh tế tuôn chảy không bị khựng lại bởi thuyết nọ thuyết kia”[6-đd]. Lã Nguyên thì cho rằng: “Các bài Đi tìm ẩn dụ Hoàng Cầm, Đi tìm thực chất thơ Hồ Xuân Hương, Hồ Xuân Hương cọ tình vào đá là những áng văn xuất sắc nhất trong phê bình phân tâm học của Đỗ Lai Thúy

Đỗ Lai Thúy viết về nhiều nhà thơ (4 tập sách với trên 30 nhà thơ) sao chỉ có bài viết về Lê Đạt, Hoàng Cầm, Hồ Xuân Hương được đánh giá cao? Có thể là TS Nguyễn Thị Thanh Tâm và PGS-TS La Khắc Hòa (Lã Nguyên) chỉ chọn ra những bài hay nhất để khen theo “chuẩn” riêng của mình. Đọc bao giờ cũng là cảm nhận riêng, không ai giống ai. Tôi sẽ trực tiếp đọc những gì ông viết để tránh bị “ám thị” bởi ý kiến giới thiệu của tác giả và của những người đã đọc ông, để tái khám phá Đỗ Lai Thúy qua văn bản.

Nguyễn Du là một tác giả đã được nghiên cứu nhiều, Đỗ Lai Thúy có khám phá gì mới? Bài Nguyễn Du từ “một ai đó” đến “không ai cả”[11] chứng minh nhận định này: “Nguyễn Du là một thiền sư-cư sĩ, vừa giống như mọi người, tuân theo lẽ thường tình, vừa khác với mọi người, sống theo sự giác ngộ của mình, dìm một ai đó trong không ai cả.”.

Đỗ Lai Thúy chọn bài thơ Ngã độc Kim cương thiên biến linh của Nguyễn Du để khẳng định con đường giác ngộ của ông: “Phương pháp mà Nguyễn Du chọn tu là độc tụng và chiêm nghiệm (Ngã độc Kim cương thiên biến linh = Ta đọc kinh Kim cương nghìn lượt). Đọc, đọc nữa, đọc mãi rồi sẽ sinh ra nghi tình, tức một tình trạng mâu thuẫn với lý trí, hay lẽ phải thông thường, mà không giải quyết được. Đây chính là công án thiền. Rồi hôm nào đó tình cờ gặp một duyên sống mà bỗng nhiên bừng ngộ. Nguyễn Du đã chứng ngộ như vậy khi đứng trước Đài đá phân kinh của thái tử Chiêu Minh nhà Lương.”

Nhưng do đâu Nguyễn Du tìm đến Phật để trở thành Thiền sư?, Đỗ Lai Thúy dùng phân tâm học để lý giải: “Thực ra, những mất người thân, mất điều kiện sống ổn định, mất tính vĩnh cửu của vương quyền khiến Nguyễn Du, nhìn từ phân tâm học Freud, rơi vào mặc cảm bị tước đoạt. Điều này tạo ra một trống rỗng lớn trong tâm hồn ông. Để lấp đầy khoảng trống nỗi sợ/nỗi sợ khoảng trống ấy, Nguyễn Du nhất định phải nhanh chóng trở thành một ai đó… Có thể nói, đến đây, về mặt tâm thần, Nguyễn Du chẳng những không lấp đầy được trống rỗng mà còn lún sâu vào tình trạng phân rã, hoặc phân liệt, hay khủng hoảng tâm thần. Chứng u uất, âu lo, trạng thái tâm thần bất định “đi không yên ổn, ngồi không vững vàng” là dấu hiệu của bệnh ủy hoàng (hystérie) như Trương Tửu đoán định. Đây hẳn là thời điểm Nguyễn Du tìm đến với đạo Phật,

Nhưng rồi Đỗ Lai Thúy lại hoài nghi: “Thực ra, việc Nguyễn Du đã là một thiền sư hay vẫn chỉ là một nhà nho, đến nay còn nhiều ý kiến khác nhau, kể cả ý kiến các thiền sư-học giả Vạn Hạnh

Đỗ Lai Thúy lý giải việc làm quan của Nguyễn Du và đưa ra một nhận định làm sửng sốt những người đã đọc kinh Phật: “…ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Du, với tính cách là một thiền sư-cư sĩ, vẫn ra làm quan, vẫn sống cuộc đời quan trường như mọi người, nhưng khác mọi người ở chỗ dù tận tụy với công việc nhưng ông vẫn giữ được khoảng cách với quan trường, nghĩa là ông không ngụp lặn trong đó và không lấy sự thăng quan tiến chức làm mục đích sống của mình.”; May mắn là thiền sư-cư sĩ Nguyễn Du còn là một nghệ sĩ nữa, nên ông thấu hiểu và đầy cảm xúc với cuộc đời. Tức là bệnh ham muốn từ thuở một ai đó vẫn còn nguyên”

Thú thực là tôi không sao “nuốt trôi” những suy diễn hoàn toàn chủ quan, bịa đặt của Đỗ Lai Thúy khi ông lý giải về Nguyễn Du. Sự vận dụng Phân tâm học cùng với việc giải thích về kinh Phật, về sự giác ngộ của Nguyễn Du của Đỗ Lai Thúy là không thể chấp nhận được. Nguyễn Du bị “khủng hoảng tâm thần, có dấu hiệu của bệnh ủy hoàng (hystérie)”. Nguyễn Du đã giác ngộ mà “bệnh ham muốn từ thuở một ai đó vẫn còn nguyên” thì sao gọi là giác ngộ? Con đường giác ngộ của Phật là diệt dục điều sơ đẳng đó ai cũng biết.

Đỗ Lai Thúy gọi Bùi Giáng là “nhà thơ của các nhà thơ”[12], là “Thi sĩ-triết gia”. “Bùi Giáng ở những mười năm cuối của cùng thế kỷ ấy đã đi đầu trong việc mở ra một thời đại mới cho văn học Việt Nam, văn học hậu hiện đại”.

Đỗ Lai Thúy khám phá về Bùi Giáng: “Một trong những cách sống thể hiện sự nhất quán của thi cách và nhân cách Bùi Giáng đó là bệnh điên của thi nhân”, nhưng rồi Đỗ Lai Thúy lại tự phủ định: “chuyện Bùi Giáng có điên thật hay không. Tạm gác sang bên vấn đề bất khả giải”.
Thế nhưng Đỗ Lai Thúy lại nói khá kỹ về bệnh điên của Bùi Giáng: “Bùi Giáng, trước hết, rất ý thức về cái điên của mình”; “Bùi Giáng còn dấn thân quyết liệt vào nghề nghiệp điên. Bởi lẽ, thi nhân tìm thấy ở điên niềm hạnh phúc. “Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời”; “Điên của Bùi Giáng, bởi vậy, chính là một thái độ sống, một cách tồn tại ở đời.”;

Và Đỗ Lai Thúy kết luận: “Người điên cũng như người chứng ngộ đều cùng chung một cõi vô trí.”; “Ông như một Bồ Tát không bước hẳn vào cõi vô ngôn, vô trí mà vẫn ở lại với Lời để cứu Lời.”

Đọc bài viết của Đỗ Lai Thúy viết về Bùi Giáng. Tôi trông chờ ông giảng một bài thơ nào đó của Bùi Giáng, nhưng tuyệt nhiên không. Bài viết của Đỗ lai Thúy chỉ toàn là những nhận định võ đoán, Đỗ Lai Thúy không sao thâm nhập vào được thế giới tư tưởng và nghệ thuật của Bùi Giáng. Ngay cả luận điểm cốt lõi của bài viết là: Bùi Giáng là “thi sĩ- triết gia” cũng không được Đỗ Lai Thúy lý giải. Rất tiếc là, Bùi Giáng bị điên mà Đỗ Lai Thúy lại không dùng phân tâm học để đọc thơ ông. Đỗ Lai Thúy và Phân tâm học sẽ hòan toàn bất lực trước thơ Bùi Giáng vì thơ Bùi Giáng là thơ tư tưởng, tư tưởng của Bùi Giáng là tư tưởng của Hoa Nghiêm, cách diễn ngôn của Bùi Giáng là cách nói vô ngôn của Thiền.[13]

“Hoặc rằng người cũng là tôi
Hay là tôi cũng là tôi như người
Ấy rằng tinh thể đười ươi
Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và
Ấy rằng một cũng là ba
Là hai mai một mốt là hôm nay.”

Bùi Giáng không hề là Hậu hiện đại như Đỗ Lai Thúy cố gán ghép cho ông. Thụy Khuê cho rằng: “Bùi Giáng tìm về người thầy Nguyễn Du như một cứu cánh. Hầu như mỗi bài thơ của ông đều có ít nhất một chữ hoặc một câu của Nguyễn Du. Và cấu trúc toàn bài thường dựa vào ý một câu Kiều”[14]

Thanh Tâm Tuyền là một hiện tượng cách tân thơ ở miền Nam trước 1975. Thơ ông là một cõi riêng thách đố trí tuệ người đọc. Trong bài viết “Thanh Tâm Tuyền đi tìm tiếng nói” [15], Đỗ Lai Thúy, bằng thi pháp học, có những phát hiện tinh tế, sâu sắc về lớp vỏ chữ:

“Ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền để tương ứng với một thực tại vỡ vụn, rời rạc, cũng trở nên rời rạc, vỡ vụn. Thi nhân tước bỏ hầu hết những từ nối, từ gối, từ cú pháp, khiến mạch liên kết giữa chữ và chữ bục đứt, các từ rời ra. Thi nhân cũng lược bỏ các ý chuyển tiếp, các hình ảnh chuyển tiếp, khiến mạch câu, đoạn bị đứt gãy đột ngột, bất ngờ. Như vậy, các từ, các cụm từ, các câu, các hình ảnh, các ý tưởng rời nhau, trở thành những đơn vị độc lập, tự thân, đứng cạnh nhau một cách ngẫu nhiên, tự sắp xếp với nhau hoặc liên hệ với nhau một cách tình cờ…
…Ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền, vì thế, mang tính rời rạc, tự thân, chưa có nghĩa, hoặc chỉ mang nghĩa tự điển của vật liệu…”
“Bài thơ câu dài ngắn, tồn tại như những khả thể, đằng sau bài thơ được hiện hữu ấy còn thấp thoáng, ẩn khuất những bài thơ khác ở dạng tiềm/ tiền sinh. Câu thơ thì chảy tràn từ dòng trên xuống dòng dưới như những chiếc đồng hồ Dali. Còn từ thì luôn vượt thoát hấp lực của trường ngữ nghĩa nguyên thuỷ, do "trung tâm tạo nghĩa" sinh ra, để lang thang trong không gian bên ngoài trúc tìm nghĩa mới. Thơ Thanh Tâm Tuyền, vì thế, vượt qua ngữ học cấu trúc của Saussure để đến với ngữ dụng học của Witgenstein.


Đỗ Lai Thúy cũng nhận xét về Cái Tôi, về cấu trúc thơ, về nhịp điệu thơ của Thanh Tâm Tuyền. Ông lần đến tư tưởng sáng tạo của Thanh Tâm Tuyền là: “Sáng tạo, theo Thanh Tâm Tuyền, là sự nổi loạn

Tôi mong được đọc một bài Đỗ Lai Thúy phân tích thơ Thanh Tâm Tuyền, nhưng trong bài viết, tuy ông có dẫn chứng bài thơ Phục Sinh (để nói về Cái Tên và Cái Tôi của Thanh Tâm Tuyền), và bài Lệ đá xanh (để nói về nhịp điệu làm xô lệch cấu trúc bài thơ - nghĩa là những yếu tố hình thức thơ), ông không hề phân tích ý nghĩa bài thơ.

Tôi ngờ rằng Đỗ Lai Thúy không đọc được thơ Thanh Tâm Tuyền. Bởi thơ Thanh Tâm Tuyền là thơ tư tưởng, mỗi bài thơ là một “dòng ý thức” về hiện sinh được diễn đạt bằng nghệ thuật Siêu thực. Cái Tôi trong thơ Thanh Tâm Tuyền là Cái Tôi với dòng ý thức trôi chảy, khác với Cái Tôi trong Thơ Mới là Cái Tôi tâm trạng. Đỗ Lai Thúy chỉ lần mò ở lớp vỏ chữ của thơ, ông không sao nhập vào được dòng ý thức và nghệ thuật Siêu thực. Ông mơ hồ rằng: “thơ Thanh Tâm Tuyền thao thiết một ý thức, ý thức hiện sinh, ý thức về thời cuộc, về tự do, về hôm nay, về một hiện thực cực thực, về thân phận nhược tiểu, về da đen, về Việt Nam và về thế giới”và sau cùng ông ca ngợi: “Thanh Tâm Tuyền cho đến nay, vẫn là một quả núi, đột khởi, sừng sững, gây kinh ngạc. Bởi, với những cấu trúc bị xô lệch, những nhịp điệu bị trôi chảy..., thơ ông đã đạt tới văn chương hiện đại giai đoạn cuối kỳ.”

Đỗ Lai Thúy viết về Thanh Tâm Tuyền như một con người siêu hình. Ông gạt bỏ tất cả bối cảnh xã hội, thời cuộc trong đó Thanh Tâm Tuyền chìm nổi. Ông cũng bỏ luôn mảng thơ Thanh Tâm Tuyền viết trong thời gian đi cải tạo, như vậy làm sao Đỗ Lai Thúy có thể hiểu tiến trình thơ Thanh Tâm Tuyền. Thi pháp học và Phân tâm học chỉ giúp Đỗ Lai Thúy hiểu đặc điểm thơ Thanh Tâm Tuyền về ngôn ngữ, nhịp điệu, cấu trúc, còn những tầng lớp khác của cấu trúc thế giới nghệ thuật thơ Thanh Tâm Tuyền, Đỗ Lai Thúy không đọc được.

Tôi định dừng đọc Đỗ Lai Thúy ở đây, song có người khen bài Đỗ Lai Thúy viết về thơ Hoàng Cầm, tôi đành phải dành ít phút để đọc Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm [16].

Đỗ Lai Thúy nhấn vào vài luận điểm: “Về Kinh Bắc là một giấc mơ. Không chỉ do Hoàng Cầm viết trong trầm mộng, mà chính vì thi phẩm có đường nét của giấc mơ”; “Giấc mơ bao giờ cũng ẩn chứa những ham muốn vô thức”; Mặc cảm Oedipe chi phối toàn bộ tập thơ Về Kinh Bắc nói riêng và cả đời thơ Hoàng Cầm nói chung”; “Ẩn ức tình dục không được thỏa mãn của thời thơ ấu đã phổ vào thơ Hoàng Cầm”; “Lá Diêu bông là ước mơ tình dục bất hợp pháp đã chi phối suốt cả đời Hoàng Cầm”

Do đâu Hoàng Cầm có mặc cảm Oedipe, Đỗ Lai Thúy lý giải: “Hoàng Cầm là một người có tuổi thơ không bình thường. Mẹ Hoàng Cầm là một cô gái làng Bựu, một làng quan họ nổi tiếng, Ông bà lấy nhau rồi chê nhau đến hơn mười năm trời… khi Hoàng Cầm sinh ra, mẹ nhà thơ phải vượt cạn một mình, rồi cũng một mình tần tảo nuôi con… Nhà thơ đã sớm cảm nhiễm cái gia cảnh của mình… Nỗi buồn ấy thực ra là mặc cảm Oedipe, yêu mẹ ghét bố, mà nhà thơ, chưa nói bấy giờ mà ngay cả bây giờ, vẫn chưa ý thức được

Đỗ Lai Thúy kết luận về thơ Hoàng Cầm: “Tóm lại, Về Kinh Bắc hội đủ các yếu tố của một thi phẩm siêu thực: giấc mơ, ẩn dụ, huyền thoại, viết tự động…, nhưng vẫn chưa phải là một tác phẩm đúng nghĩa của chủ nghĩa siêu thực như ở phương Tây

Thú thực là tôi thấy Đỗ Lai Thúy áp đặt quá đáng nhận thức chủ quan của mình về thơ Hoàng Cầm. Ông sử dụng Phân tâm học một cách méo mó để giải thích vấn đề. Từ hoàn cảnh riêng cha mẹ của Hoàng Cầm ông suy ra mặc cảm Oedipe, con trai yêu mẹ, ghét bố. Từ nhận định Về Kinh Bắc là một giấc mơ, ông dẫn đến ý tưởng Giấc mơ bao giờ cũng ẩn chứa những ham muốn vô thức”; ông cho rằng “ham muốn vô thức” ấy là “Ẩn ức tình dục không được thỏa mãn của thời thơ ấu” của Hoàng Cầm…

Ai cũng biết đâu phải giấc mơ nào cũng chứa những ẩn ức tình dục! Người ta sẽ hỏi, đứa trẻ được thỏa mãn ẩn ức tình dục như thế nào? Và được thỏa mãn ẩn ức tình dục, nên trẻ con không bị buồn bực dồn nén chăng. Mặc cảm Oedipe và Ẩn ức tình dục là hai khái niệm Phân tâm học khác nhau. Mẹ Hòang Cầm một mình tảo tần nuôi con, Hòang Cầm sớm cảm nhận gia cảnh mà thương mẹ, đó là một thứ tình cảm tinh thần, đâu phải là “ẩn ức tình dục”, đâu phải mặc cảm Oedipe, con trai ghét bố khi thấy bố gần gũi âu yêm mẹ! Bố Hoàng Cầm đi xa, bỏ rơi mẹ Hoàng Cầm, làm sao có mặc cảm Oedipe được!

Đọc bài viết, Tôi tự hỏi, chẳng nhẽ Hoàng Cầm làm thơ chỉ là để thỏa mãn ẩn ức tình dục của riêng nhà thơ? Vậy đâu là giá trị những sáng tạo nghệ thuật của Hoàng Cầm đối với cộng đồng xã hội, cộng đồng văn hóa và lịch sử thơ Việt?

Tôi thực sự hoài nghi cái cách mà Đỗ Lai Thúy sử dụng phương pháp Phân tâm học. Đỗ Lai Thúy chỉ dùng thơ Hoàng Cầm làm chứng cớ cho nhận định của mình về Hoàng Cầm, tức là dùng tác phẩm như vật chứng, lời chứng để quy kết về tác giả, hơn nữa là những quy kết áp đặt, giả định, chủ quan. Một phương pháp đọc thơ như vậy, liệu có đem đến những thông tin đáng tin cậy hay không? Tất nhiên tôi không phủ định những phân tích thi pháp của Đỗ Lai Thúy trong bài này. Ông có những phát hiện thú vị. Tuy nhiên đó chỉ là những phát hiện về vỏ chữ của thơ, còn giá trị tư tưởng, sáng tạo nghệ thuật đều bị Đỗ Lai Thúy bỏ qua.

3.“KẺ THÍCH CHIA RẼ DƯ LUẬN”[17]

Đỗ Lai Thúy đã viết về các nhà thơ: Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Gia Thiều; Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoàng Cầm (Bút pháp của ham muốn); Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Dương Khuê, Tú Xương, Tản Đà (Hé gương cho người đọc); Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Xuân Thu Nhã Tập (Mắt Thơ); Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt, Bùi Giáng, (Thơ như là mỹ học của cái khác).

Nhìn vào công trình của Đỗ Lai Thúy, Mai Anh Tuấn cho rằng Đỗ Lai Thúy “cặm cụi trục vớt những danh thi”. Đúng là Đỗ Lai Thúy viết về những nhà thơ (hầu hết) đã thành người của thiên cổ. Tôi không thấy mặt những nhà thơ đương đại, những nhà thơ trong hệ hình Hậu hiện đại nối tiếp Bùi Giáng như ông nói, chẳng hạn Nguyễn Quang Thiều, Thanh Thảo, Văn Cầm hải, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thúy Hằng, Nguyễn Hữu Hồng Minh... Chẳng nhẽ họ không có gì cho ông đáng viết?

Lý giải điều này thế nào?

Phải chăng đó là thái độ né tránh vì ông sợ phiền phức đối với người đang sống, vì nếu ông dùng Phân tâm học để phát hiện ra những “ẩn ức tình dục” của họ như trường hợp ông viết về Hoàng Cầm. Ông kể: “khi tôi viết bài về Xuân Diệu đăng đầu tiên trên một tờ báo điện tử, con trai Huy Cận đến tận toà soạn doạ sẽ kiện Đỗ Lai Thuý vu khống Xuân Diệu, vu khống Huy Cận. Tôi bắn tin, muốn kiện cứ kiện Tô Hoài trong Cát bụi chân ai trước.”. Đỗ Lai Thuý nói vui, rằng “người làm phê bình bao giờ cũng phải có bản lĩnh, lì lợm, thậm chí, mặt dày mày dạn” [17-đd]

Đỗ Lai Thúy không viết về những nhà thơ hệ hình Hậu hiện đại theo chân Bùi Giáng, là vì ông không đọc được họ (hạn chế về năng lực và phương pháp phê bình). Trước đó, ông đã không đọc được thơ siêu thực-dòng ý thức của Thanh Tâm Tuyền và thơ vô ngôn viết theo mỹ học Thiền của Bùi Giáng thì sao ông đọc được Siêu thực của Nguyễn Quang Thiều, Thanh Thảo, làm sao ông đọc được những tác phẩm thơ bị phá vỡ cấu trúc, phá vỡ không gian, thời gian, nhân vật và thi luật, và xen vào những ngẫu nhiên, hoang tưởng, những mảnh vỡ của thơ Văn Cầm Hải, Nguyễn Thúy Hằng, Ly Hoàng Ly. Ngay cả thơ Tân hình thức của Khế Yêm mà ông khen ngợi, ông cũng không hề chạm vào…Bởi Thi pháp học và phân tâm học không giúp ông thâm nhập được vào thế giới thơ của những nhà thơ này. Cho nên ông khai quật thơ những ngưới đã chết (thời đại đã vượt qua họ) là vì vậy. Có lẽ phải chờ các nhà phê bình trẻ đến sau ông, khi họ được trang bị lý thuyết và kỹ năng bài bản hơn ông, họ thuộc thế hệ hậu hiện đại, lúc ấy may ra họ sẽ kế tục được ông.

Ông thích “chia rẽ dư luận” là vì, như GS-TS Trần Đình Sử và nhà phê bình Nguyễn Hòa nhận xét, ông “hư cấu” những lý thuyết không có cơ sở, ông đưa ra những nhận định áp đặt lên đối tượng phê bình trái với lý luận và thực tiễn (trường hợp Nguyễn Du, Hoàng Cầm chẳng hạn), và ở việc ông “xoay trục” liên tục từ Thi pháp sang Phân tâm học, rồi nghiên cứu hệ hình chuyển sang tiếp cận văn học từ văn hóa, nó lộ ra rằng chưa phương pháp phê bình nào giúp ông khám phá được bản chất, giá trị đích thực của sáng tạo nghệ thuật. Ông dùng tác phẩm làm chứng cớ để quy kết về tác giả, đó là một phương pháp phê bình đã lạc hậu lắm rồi. Ông đặt ra mô hình tiếp cận tác phẩm: Tiền văn bản-Văn bản-Hậu văn bản có vẻ “hoành tráng”, nhưng tôi không thấy ông thực hiện mô hình này trong công trình nào. TS Lê Thị Thanh tâm gọi lối viết của ông là một lối phê bình “âm ỉ sướng”, vì “Đỗ Lai Thúy mang đến cái sung sướng khoái trá cho người đọc qua những “chân trời” thơ tinh tế, sắc cạnh.” và nhận định về con đường của ông: “Từ kỹ năng, khả năng, đến bản năng, tài năng là con đường quá dài…” [6-đd].

Nói ông là người thích chia rẽ dư luận làm tôi nhớ đến những ý kiến “khá gay gắt” của Nguyễn Hòa, Trần Đình Sử [đd], và những lời nặng nề của Nguyễn Tôn Hiệt [18] nhận xét về ông.

Dẫu thế nào, có thể khẳng định điều này, Thi pháp học cùng với năng lực bẩm sinh (trực giác nghệ thuật) đã giúp ông khám phá được nhiều điều thú vị về nghệ thuật ngôn từ của các nhà thơ, từ đó ông có những trang viết bay bổng, giàu cảm xúc, có thể làm say mê người đọc.
Còn những điều khác…, như ông nói: “người làm phê bình bao giờ cũng phải có bản lĩnh, lì lợm, thậm chí, mặt dày mày dạn


_____________________

[1] Lã Nguyên-Đỗ Lai Thúy và phê bình phân tâm học Việt Nam:
https://languyensp.wordpress.com/2016/02/14/do-lai-thuy-va-phe-binh-phan-tam-hoc-viet-nam/
[2] Đỗ Lai Thý-Tiếp cận văn học từ hệ thống văn hóa:
http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/ly-luan-van-hoa-hoc/cac-binh-dien-cua-van-hoa/2956-do-lai-thuy-tiep-can-van-hoc-tu-he-thong-van-hoa.html
[3] Lê Sử-Đỗ Lai Thúy và phê bình Thi pháp học
https://www.facebook.com/permalink.php?id=316117815185932&story_fbid=316383101826070
[4] Trần Đình Sử- Đỗ Lai Thuý và bút pháp ham muốn
http://vietvan.vn/vi/bvct/id1108/Do-Lai-Thuy-va-but-phap-ham-muon/
[5] Nguyễn Mạnh Tiến- Chú giải ngắn về phê bình văn học Đỗ Lai Thúy và Thơ như là mỹ học của cái khác,
Tham luận tại tọa đàm: “Đỗ Lai Thúy và Thơ như là mỹ học của cái khác” do Khoa Viết văn – Báo chí (ĐHVH HN) tổ chức ngày 26/4/2013)
http://vietvan.vn/vi/bvct/id3511/Chu-giai-ngan-ve-phe-binh-van-hoc-Do-Lai-Thuy-va-Tho-nhu-la-my-hoc-cua-cai-khac/
[6] Lê Thị Thanh Tâm-Phê bình thơ xác lập đẳng cấp thưởng thức nghệ thuật
http://vietvan.vn/vi/bvct/id3517/Phe-binh-tho-xac-lap-dang-cap-thuong-thuc-nghe-thuat-(*)/
[7] Mai Anh Tuấn- Đọc thơ như là mỹ học của cái khác.
http://vannghequandoi.com.vn/Diem-sach/Doc-Tho-nhu-la-my-hoc-cua-cai-khac-282.html
[8] Đỗ Lai Thúy-Tiếp cận văn học từ hệ thống văn hóa-Nguồn : Tạp chí VHNT số 305, tháng 11-2009
http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/ly-luan-van-hoa-hoc/cac-binh-dien-cua-van-hoa/2956-do-lai-thuy-tiep-can-van-hoc-tu-he-thong-van-hoa.html
[9] Nguyễn Hòa- PGS TS Đỗ Lai Thuý: từ những tiền đề sai đến một kết quả… đúng!?
http://www.nhandan.com.vn/vanhoa/dien-dan/item/2257702-.html
[10] Trần Đình Sử- Những luận lí khó tin (Đọc Khi người đọc xuất hiện của Đỗ Lai Thuý)
https://trandinhsu.wordpress.com/2016/03/26/li-thuyet-kho-tin/
[11] Đỗ Lai Thúy- Nguyễn Du từ “một ai đó” đến “không ai cả
vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/nguyen-du-tu-mot-ai-d-den-khng-ai-ca/
[12] Đỗ Lai Thúy-Bùi Giáng, nhà thơ của các nhà thơ:
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=4731&CategoryID=41
[13] Xin đọc: Bùi Công Thuấn-Bùi Giáng, ai người chia sẻ
http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=7197
[14]Thụy Khuê-Hiện tượng Bùi Giáng
http://thuykhue.free.fr/stt2/index.html
[15] Đỗ Lai Thúy-Thanh Tâm Tuyền đi tìm tiếng nói
http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=18198
[16] Đỗ Lai Thúy-Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cấm
http://tqtrung1010.blogspot.com/2012/09/tham-khao-o-lai-thuy-viet-ve-tho-hoang.html
[17]- Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy - Kẻ thích chia rẽ dư luận
http://www.tienphong.vn/van-nghe/nha-phe-binh-do-lai-thuy-ke-thich-chia-re-du-luan-618028.tpo
[18] Nguyễn Tôn Hiệt-Đỗ Lai Thúy và trường phái “luộc văn”
talawas.org/talaDB/showFile.php%3Fres%3D14440%26rb%3D0106+&cd=1&hl=vi&ct=clnk&gl=vn