Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

ĐỌC LẠI TRUYỆN NGẮN ÔNG NĂM CHUỘT CỦA PHAN KHÔI-Bùi Công Thuấn

ĐỌC LẠI TRUYỆN NGẮN ÔNG NĂM CHUỘT CỦA PHAN KHÔI
Bùi Công Thuấn




Tôi rất vui khi được chia sẻ suy nghĩ của mình về những vấn đề ông Phan Nam Sinh đặt ra khi trao đổi với nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân về truyện ngắn Ông Năm Chuột của Phan Khôi.

Những vấn đề lịch sử về Phan Khôi và về truyện Ông Năm Chuột thuộc về một lĩnh vực nghiên cứu khác. Bạn đọc hôm nay đối diện với truyện Ông Năm Chuột thông qua văn bản ngôn ngữ truyện. Mọi ý nghĩa của tác phẩm trước hết phải là ý nghĩa từ cấu trúc ngôn ngữ văn bản này. Cách đọc và suy diễn cảm tính những ý nghĩa bên ngoài tác phẩm hay dùng tác phẩm như một “vật chứng” để quy kết về tác giả, đó không phải là cách đọc tác phẩm văn chương.

Vậy cần phải đọc Ông Năm Chuột như thế nào?

Thời điểm hiện tại (thế kỷ 21 hội nhập toàn cầu hóa) khác với thời điểm 1958 khi Ông Năm Chuột đăng trên báo Văn số 36. Ngày nay, cách đọc xã hội học dung tục đã phải nhường chỗ cho những quan điểm và lý thuyết văn học mới, nhờ đó tác phẩm được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Ánh sáng nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị đã nhấn mạnh đế tinh thần nhân văn và dân chủ sâu sắc của văn học. Nghị quyết ghi rõ:”Tư duy lý luận và quan điểm của Ðảng về văn học, nghệ thuật tiếp tục đổi mới, bổ sung, phát triển, góp phần cổ vũ, khích lệ, tạo niềm tin cho văn nghệ sĩ…- Văn học, nghệ thuật Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ.”

1.TẦM VÓC NHÀ VĂN PHAN KHÔI

Phan Khôi nhà báo kiệt xuất thì đã rõ. Phan Khôi cũng người mở đầu cho phong trào Thơ Mới (1930-1945), nhưng tầm vóc nhà văn của Phan Khôi có sánh được với báo chí và thơ của ông không? Nhà văn là người viết tác phẩm hư cấu, nhưng một thời gian dài ông không công bố tác phẩm truyện nào? Về điều này ông Phan Nam Sinh cho biết: ”Phan Khôi không viết văn hư cấu chỉ là do hoàn cảnh đất nước và đời sống riêng của Phan Khôi không thuận lợi và cũng chưa đòi hỏi tới mức để ông phải làm việc ấy.”...”Phan Khôi rất coi trọng phản biện xã hội, xem đó là thứ vũ khí song hành và rất sắc bén để thực hiện mục đích khai trí của phong trào Duy tân, một tổ chức mà trong một thời gian dài có tới hơn sáu năm, ông tích cực tham gia.”

Thực ra, việc chọn lựa thể loại văn chương để thể hiện tư tưởng nằm trong chủ đích của nhà văn. Một nhà lý luận, một tài năng sáng tạo như Phan Khôi, khi chọn một kiểu tác phẩm nào đó để thể hiện tư tưởng hẳn nhiên là có mục đích riêng, bởi ông biết rõ ưu thế của từng thể loại. Một thời gian dài ông không viết truyện hư cấu không phải do “viết truyện hư cấu ít hứa hẹn hơn nhiều” như nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân nhận định. Nhưng trong những hoàn cảnh cần thiết bày tỏ trực tiếp chính kiến, thù dùng văn chính luận sẽ là một lợi khí sắc bén.

Người viết văn nào cũng biết viết truyện ngắn hư cấu đòi hỏi công sức sáng tạo hơn nhiều so với viết văn chính luận. Có khi, có một cốt truyện nhưng nhà văn không thể tìm được chủ đề thể hiện tư tưởng, thì cũng không thể viết thành truyện. Cũng có khi, nhà văn đã có tư tưởng và những vấn đề cần lên tiếng, nhưng lại không có một cốt truyện để thể hiện, thì cũng không thể viết thánh truyện. Vì thế nhà văn thường lấy chất liệu từ đời sống rồi tự sáng tạo một cốt truyện để thể hiện chủ đề, tư tưởng. Việc mã hóa chủ đề, tư tưởng trong hình tượng là công đoạn khó khăn nhất vì nó đòi hỏi năng lực sáng tạo của người cầm bút. Và ngay cả khi truyện đã được công bố thì người đọc chưa hẳn đã đọc được những “chính kiến” tác giả gửi trong tác phẩm (thí dụ như truyện Ông Năm Chuột) vì nhiều lẽ. Trước hết ở kiểu truyện. Những truyện mã hóa như một ẩn dụ (Kinh Thánh có nhiều dụ ngôn), những truyện triết học (thí dụ F. Kafka), những kiểu viết Siêu thực, hay dùng những yếu tố ngẫu nhiên, hoang tưởng, phá vỡ cấu trúc trong thủ pháp của Hậu Hiện Đại… thì không hẳn người đọc nào cũng có thể thâm nhập thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Điều này có thể giải thích cho lý do một thời gian dài Phan Khôi không viết truyện hư cấu.

Nhưng nếu nói rằng :”Chỉ đến khi Phê bình lãnh đạo văn nghệ (1956) được đăng trên Giai phẩm mùa thu bị kịch liệt phê phán, đồng nghĩa với việc ông không còn đất để phản biện được nữa, Phan Khôi mới trở về cùng lối văn hư cấu và đã rất thành công với truyện ngắn Ông Năm Chuột.”(Phan Nam Sinh), tôi e rằng chưa thấu đạt mục đích và tài năng văn chương của Phan Khôi, nếu không nói là hạ thấp tài năng viết truyện của Phan Khôi.
Ngày nay, nhiều người viết truyện chuyển sang viết lý luận, hoặc ngược lại, có nhà lý luận chuyển sang làm thơ, viết truyện; hẳn các tác giả ấy có sự chọn lựa riêng. Chúng ta nên tôn trọng quyền chọn lựa cách viết của Phan Khôi. Vấn đề là, từ một ngòi bút với tư duy chính luận phản biện sắc xảo chuyển sang kiểu văn hình tượng, Phan Khôi có thành công không? và truyện ngắn Ông Năm Chuột có giá trị văn chương như thế nào? Chính giá trị này mới làm nên nhà văn Phan Khôi.

Thái kế Toại (1) cho rằng :”Truyện ngắn Ông Năm Chuột ... với bút pháp bậc thầy, nội dung hàm chứa nhiều thông điệp mang tính ẩn dụ cao còn có ý nghĩa cách tân văn học so với các truyện ngắn minh họa đơn giản trong thời điểm đó”. Những ý kiến nói về giá trị văn chương của Ông Năm Chuột như nhận định của Thái Kế Toại chưa nhiều (?). Người ta chỉ mới mơ hồ điều này là, vì Ông Năm Chuột mà tờ báo Văn bị đóng cửa, và Phan Khôi phải chịu trách nhiệm chính trị. Nhưng chỉ cần một truyện ngắn Ông Năm Chuột, Phan Khôi đủ khẳng định tài năng văn chương của mình, cũng như chỉ cần một bài thơ Tình Già, Phan Khôi đã khẳng định mình là người đi tiên phong của phong trào Thơ Mới (1932-1945)

2.ÔNG NĂM CHUỘT LÀ MỘT TÁC PHẨM KÝ?

Có lẽ không khó để xác định thể loại của một tác phẩm. Nhưng đặt vấn đề xác định thể loại của Ông Năm Chuột là để làm gì?
Nếu gọi Ông Năm Chuột là ký, tức là thể loại ghi lại người thật việc thật, thì Ông Năm Chuột sẽ giúp người đọc tìm hiểu về đời tư tác giả Phan Khôi qua nhân vật Tôi với những chi tiết tự thuật rất thật.

Và nếu chỉ đọc tác phẩm để tìm hiểu con người xã hội của tác giả thì đây là cách xã hội học dung tục. Người ta coi văn bản tác phẩm là “vật chứng” để quy kết tác giả. Cách đọc này phủ định sự sáng tạo và những giá trị tư tưởng-thẩm mỹ của tác phẩm. Nếu đọc Ông Năm Chuột để tìm hiểu và quy kết Phan Khôi như Đào Vũ đã viết (2), thì mục đích này sẽ thất bại. Đào Vũ viết: ”Phan Khôi con quan, cháu quan chính tông dòng dõi nhà quan như Phan Khôi đã tự báo trong truyện “Ông Năm chuột”. Có điều Phan Khôi chưa tự báo là Phan Khôi còn đã là một đại địa chủ chiếm đoạt bao nhiêu mẫu nương dâu…”

Không kể những điều Đào Vũ bịa đặt, Phan Khôi đúng là cháu ngoại Tổng đốc Hoàng Diệu, cha là cụ Phan Trân (1862-1934), đậu phó bảng, làm tri phủ Diên Khánh, năm 37 tuổi (1899), ông cáo bệnh từ quan. Đào Vũ nhắc đến những chi tiết này là để nói điều gì về giá trị tác phẩm? hay chỉ để quy kết “thành phần giai cấp” phong kiến của Phan Khôi? Có chi tiết này: Nhân vật Tôi trong Ông Năm Chuột kể:” Năm 1944, tôi ở Hà Nội, về nhà được mấy hôm thì thầy tôi mất. Làm đám xong, tôi ở luôn trong nhà ba bốn tháng không ra khỏi cổng”, Đào Vũ sẽ giải thích thế nào khi cụ Phan Trân, thân phụ Phan Khôi qua đời năm 1934?(*)

Nếu gán cho nhân vật Tôi là Phan Khôi, thì những gì Tôi thuật lại không đủ để hiểu về Phan Khôi. Tôi kể : ”Hồi tôi còn 14 tuổi, 15 tuổi, thì đã nghe người làng nói nhiều về cái tên Năm Chuột- Năm hai mươi tuổi, tôi thi đỗ tú tài- Tháng tám năm Hợi, mẹ tôi mới đẻ tôi ra - vào khoảng 1920, một lần tôi ở Hà Nội về nhà, thấy người ta nói Năm Chuột bây giờ lập gia đình ở ngụ tại làng tôi- gần nay, đọc Lỗ Tấn toàn tập, tôi mới thấy trong đó có nhắc đến tên cuốn sách ấy- tôi bấy lâu trau dồi cái đức tính ngay thực của người viết báo -Năm 1944, tôi ở Hà Nội, về nhà được mấy hôm thì thầy tôi mất…”

Trong suốt tác phẩm, nhân vật tôi chỉ im lặng và nép mình đi.“Tôi thấy cái điều anh ta nói đó hình như đúng, tôi làm thinh.” Có khi“Tôi bẽn lẽn ấp úng, cười hì hì không trả lời được”. Có khi “tôi cảm động quá. Tôi không dám chống lại ý anh ta, chỉ nói như vớt vát một ít“, và có lúc phải thú nhận:”Không biết đối đáp thế nào với hắn, tôi phải nói một câu mà tự mình cũng thấy là non nớt quá”…

Thực ra, nhân vật tôi chỉ là nhân vật dẫn truyện, làm ngòi nổ cho nhân vật Năm Chuột. Những chi tiết thật về đời tư của nhân vật Tôi chỉ để ám thị người đọc rằng, truyện Tôi kể là truyện thật. Có khi những cảnh, những người, những sự việc và chi tiết là thực, nhưng cốt truyện, nhân vật chính lại hoàn toàn hư cấu. Tài năng của tác giả là ở chỗ mượn cái thật để hư cấu sáng tạo, làm cho người đọc tin những gì được hư cấu là thực, nhất là cái cách Phan Khôi trực tiếp tự miêu tả tâm trạng mình (như trích ở trên) thì hết sức thuyết phục.

Quan sát nhân vật Năm Chuột, Phan Khôi thú nhận là “không biết rõ” về nhân vật này. Ông mở đầu và kết truyện thế như sau:”Về gốc gác của hắn, chỉ thấy nói là người làng Kỳ Lam, cái làng ở phía Bắc làng tôi, cách một con sông, về sau có cái ga xe hỏa gọi là ga Kỳ Lam, còn mọi sự khác không biết rõ. Hình như hắn cũng không có nhà cửa, cha mẹ, vợ con gì ở làng…”

“…Buồn quá, một hôm tôi đi tìm anh ta. Ðến nơi, cái túp tranh không có nữa. Ðến nơi, cái túp tranh không có nữa. Hỏi thì người ta nói Năm Chuột dọn đi đâu đã lâu rồi. Từ đó tôi mất Năm Chuột của tôi.”

Như vậy, cả hai nhân vật Tôi và Năm Chuột đều không có địa chỉ đáng tin để người đọc có thể lần ra manh mối. Ông Năm Chuột không phải là một tác phẩm Ký. Nếu bám víu vào Ông Năm Chuột để “quy chụp” Phan Khôi, thì đó là dụng ý ngoài tác phẩm. Ngày nay những dụng ý như bài viết của Đào Vũ đã rõ ràng trắng đen.

3. ÔNG NĂM CHUỘT LÀ MỘT TRUYỆN NGẮN?

Gọi Ông Năm Chuột là truyện thì cần phải xem xét nhân vật Năm Chuột, bởi nhân vật này là hình tượng trung tâm. Tác giả có thể kể về Năm Chuột mà không cần đến nhân vật Tôi. Năm Chuột chứa đựng đầy đủ nội dung, chủ đề, tư tưởng và nghệ thuật của truyện. Những chi tiết đời thực chỉ là chất liệu phục vụ cho việc xây dựng hình tượng này. Bạn đọc hôm nay khi đọc Ông Năm Chuột sẽ cảm nhận trực tiếp tài năng, tư tưởng nghệ thuật của Phan Khôi qua hình tượng Năm Chuột, không cần biết những nhận vật mà Năm Chuột nói đến trong thực tế là ai. Thí dụ Năm Chuột nói đến nhân thân của nhân vật Tôi:
- “Quan lớn hồi xưa (chỉ ông ngoại tôi) làm đến Tổng đốc Hà Nội vừa chi, mà không có tiền lợp nổi cái nhà của ông bà để lại đã tróc ngói; còn ông phủ (chỉ cậu tôi) mới làm Tri-phủ có 3 năm về “chung dưỡng”, mua được những mươi mẫu ruộng, tôi biết là hạng đất tốt nhất, thế sao nói là không có nhiều tiền?
Tôi thấy cái điều anh ta nói đó hình như đúng, tôi làm thinh”

Những chi tiết ấy người đọc biết rõ hay không biết cũng không ảnh hưởng gì đến nhân vật Năm Chuột
Phan Nam Sinh nhận định: nhân vật Năm Chuột được:”xây dựng trên nền tảng của luận lý học và cái triết lý yêu nước, ghét Tây “ là hoàn toàn xác đáng.

Năm Chuột có thể là một “bậc kỳ tài” ẩn thân, bởi ông ta làm được những việc người khác không thể làm. Việc ông ta làm có mục đích rõ ràng, không thể gọi là xấu. Ông ta có tri thức văn hóa sâu rộng, có những hiểu biết sâu sắc về con người và thời đại mình. Nhân vật Tôi, dù đỗ Tú Tài, dù sinh trưởng trong một gia đình thế giá, cũng chạy theo không kịp những hiểu biết của Năm Chuột. Những gì Năm Chuột nói đều được Tôi kiểm chứng và xác nhận đúng. Chẳng hạn, Năm Chuột đọc Thương-Sơn thi tập, đọc xong xé tập thơ cuộn thuốc hút. Hắn nói chỉ giữ lại 1 quyển trong đó có bài Mại trúc diêu. Nhân vật Tôi lạnh người vì đã đọc thơ Thương Sơn rồi nhưng “bài Mại trúc diêu là bài thế nào, tôi có biết đâu?” ; hoặc khi biết Năm Chuột đọc Kim Thạch chí-biệt”, nhân vật tôi thú nhận: ”thầy tôi cũng chịu không biết,”… Cho mãi đến gần nay, đọc Lỗ Tấn toàn tập, tôi mới thấy trong đó có nhắc đến tên cuốn sách ấy. Tôi nghĩ mà lấy làm thẹn,…mình là người học thức viết báo viết biếc, mà tỏ cái dốt..”

Năm Chuột còn biết đến gốc ngọn việc làm quan của thân sinh nhân vật Tôi, biết gốc ngọn từ thời Đồng Khánh, Thành Thái đến giờ ở cái làng Bảo An, ông nào cũng làm đến phủ huyện rồi kiếm cách từ chức mà về. Nhân vật tôi phải xác nhận cái sở kiến của Năm Chuột là độc đáo và khẳng định thêm: ”Thuở Tự Ðức ông Nguyễn Duy Tự, làm đến phủ đoãn Thừa Thiên, ông nội tôi làm đến án-sát Khánh Hòa, cũng đều bị cách.Tôi không tin phong thủy, nhưng đó là sự thực”. Chỉ có điều, Năm Chuột mượn hình hài nhếch nhác, chọn công việc và cách sống bình dân để che dấu tung tích của mình, khiến cho nhân vật Tôi như bị hút vào Năm Chuột; và dù đã tiếp cận Năm Chuột nhiều lần nhưng Tôi vẫn không thể nhận rõ Năm Chuột là ai.

Cái ý thức chống Tây và chống bọn quan lại phong kiến ở Năm Chuột là rất rõ. Chỉ có điều ý thức ấy không biến thành hành động yêu nước cụ thể như một chiến sĩ mà ẩn thân trong một cách sống có vẻ bí mật, như một kẻ giang hồ, tạo ra những huyền thoại và nghi ngờ, khiến người làng không ai dám thuê hắn làm việc gì về cái nghề của hắn cả…người ta lại cho Năm Chuột là kẻ nói láo nói phét, vào cái hạng “mười voi không được bát nước xáo”. Đó cũng là cái dụng ý của Năm Chuột.

”Hắn cũng không có nhà cửa, cha mẹ, vợ con gì ở làng. Hắn làm thợ bạc, quanh năm đi làm nghề ở các nơi,…Nhiều người còn nói Năm Chuột đúc súng, đúc bạc giả được. Mỗi khi nói điều ấy, họ làm ra vẻ bí mật, hình như họ có ý ngờ cho Năm Chuột định làm một việc gì lớn, “làm giặc” chẳng hạn.”
Phan Nam Sinh nhận định:” Năm Chuột đầy cá tính, không thể trộn lẫn với bất kỳ nhân vật nào khác, thậm chí đã đạt tới mức các điển hình nhân vật trong văn học hiện đại chúng ta.” Vậy đặt Ông Năm Chuột vào bối cảnh 1956, Phan Khôi muốn nói gì qua hình tượng Năm Chuột? và hình tượng Năm Chuột có ý nghĩa gì đối với hôm nay?

Có người nói Phan Khôi dùng nhân vật Năm Chuột để ám chỉ người này, người kia. Nhưng thực ra cả nhân vật Tôi và Năm Chuột chỉ là phân thân của một người, đó là tác giả. Nhân vật tôi là bóng dáng đời thực Phan Khôi, còn Năm Chuột là tính cách, thái độ sống của Phan Khôi. Hẳn bạn đọc biết rõ Phan Khôi là một người yêu nước, có tri thức uyên bác và hiểu rõ thời đại mình. Ông sống thẳng thắn, một nhà phản biện sắc xảo. “Năm 1907, Phan Khôi được phong trào Duy tân Quảng Nam gửi ra Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, vừa để tìm cách phát triển các hoạt động duy tân ở quê hương … Lúc này, vụ "xin xâu" (chống sưu thuế) ở Quảng Nam bị đàn áp dã man. Trần Quý Cáp bị xử tử. Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành, Phan Thúc Duyện bị đi đày Côn Đảo. Phan Khôi cũng bị kết án 3 năm tù ..”(3) Phan Nam Sinh xác nhận điều này:”được đọc hàng ngàn bài báo của chính ông trong công trình Phan Khôi - tác phẩm đăng báo của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân. Tôi thật sự choáng ngợp và thán phục trước kho tri thức uyên bác, vừa có chiều rộng lại có chiều sâu mà ông sở hữu…”(4)

Năm Chuột là hình ảnh một Phan Khôi ẩn thân. Ông biết rất rõ bản chất thực dân phong kiến, và dứt khoát đi theo kháng chiến (như thái độ chống thực dân phong kiến của Năm Chuột). Ông cũng biết rất rõ về những người xung quanh mà ông phải giao tiếp. Người ta nghi kỵ, tẩy chay ông, quy kết “phản động”, như dân làng tẩy chay và đồn thổi nhiều điều về Năm Chuột, kể cả việc “làm giặc”. Nhưng không vì thế mà Phan Khôi từ bỏ tính cách của mình. Nếu Năm Chuột đã nói thẳng tất cả (như tính phản biện của Phan Khôi), thì Phan Khôi cũng không ngại “Phê bình lãnh đạo văn nghệ (Giai phẩm Mùa Thu, tập 1). Phan Khôi trực tiếp bày tỏ quan điểm về văn chương.”Từ khi biết Năm Chuột có biết chữ Hán nhiều, xem sách xem thơ được rồi, tôi có lúc đem văn học nói với anh ta, anh ta chỉ nghe và hỏi chứ không tỏ ý kiến. Tôi có ý trách. Anh ta giải thích thế này:“Người ta, cái gì biết ít thì chỉ nên nghe chứ không nên nói, tôi nói chuyện văn chương chữ nghĩa với ông, cũng như ông không dạy nghề làm thợ bạc cho tôi”.Thái độ của Phan Khôi là rõ ràng và thẳng thắn, nhưng người ta lại hiểu đó là một ám chỉ. Cả việc Phan Khôi không viết phản biện nữa cũng được Năm Chuột nói thẳng ra: ”Thôi thôi, đã lâu nay tôi không còn nói những chuyện như thế nữa. Nói không có người nghe mà còn có hại…”

Dù thế nào ông vẫn tự khẳng định mình, và đòi mọi người phải tôn trọng như thể gọi Năm Chuột bằng Ông. Phan Khôi vẫn giữ thái độ thẳng thắn trước hiện thực bị che lấp hay ngụy trang, (như việc các quan chức làng Bảo An bị Năm Chuột lật tẩy việc cáo quan). Nếu thời 1956 người ta nghĩ vậy thì việc Phan Khôi bị “tai nạn” là không tránh khỏi. Phải thấy điều này, sau bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ, 1956, Phan Khôi bị công kích dữ dội, nhưng ông vẫn sáng tạo được Ông Năm Chuột (1958), tiếp tục thể hiện quan điểm của mình, để rồi sau đó ông bị vùi dập nghiệt ngã hơn (6), thì đó là bản lĩnh văn chương và nhân cách của Phan Khôi. Phan Khôi kết truyện về Năm Chuột:”Buồn quá, một hôm tôi đi tìm anh ta. Ðến nơi, cái túp tranh không có nữa. Hỏi thì người ta nói Năm Chuột dọn đi đâu đã lâu rồi. Từ đó tôi mất Năm Chuột của tôi”. Phải chăng Năm Chuột là một nhân vật tri kỷ của Phan Khôi?

Nhưng nếu chỉ đọc Ông Năm Chuột như vậy, hẳn nhiên là đã bó hẹp giá trị tác phẩm, bởi hình tượng Năm Chuột còn có tính khái quát tư tưởng rộng hơn nhiều. Nhận xét về các tác phẩm văn xuôi thời Nhân Văn- Giai Phẩm, trong đó có Ông Năm Chuột, Lê Hoài Nguyên (Thái kế Toại) viết:”Về bút pháp, văn xuôi NVGP đã không còn là lối văn tả thực, tường thuật đơn giản. Nó thực sự đã có những ẩn dụ, biểu tượng có ý nghĩa sâu sắc mà trong văn học kháng chiến còn vắng bóng. Các hình tượng nghệ thuật của họ đã tiến tới sự khái quát nghệ thuật, đa nghĩa, mang ẩn dụ tư tưởng. Đó là các truyện ngắn Tiếng sáo tiền kiếp, Những người khổng lồcủa Trần Duy, Ông Năm Chuột của Phan Khôi, Con ngựa già của Chúa Trịnh của Phùng Cung, tiểu luận Ông bình vôi của Phan Khôi, Thi sĩ máy của Như Mai…”(5)

4. NGẪM NGHĨ THÊM

Ngày nay, đọc Ông Năm Chuột, ta mơ hồ nhận ra những bóng dáng quen trong cách kể truyện về những “dị nhân” xưa, những người có cách sống hay hành động khác người. Xin đọc truyện Ngô Soạn trong Nam Hải Dị Nhân của Phan Kế Bính. Truyện này chép lại Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ. Tôi thích lời bình này trong Truyền Kỳ Mạn Lục về Ngô Soạn : ”Than ôi! Người ta vẫn nói: "Cứng quá thì gẫy". Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gẫy hay không là việc trời. Sao nên đoán trước là sẽ gẫy mà chịu đổi cứng ra mềm ru! Ngô Tử Văn là một anh chàng áo vải. Vì cứng cỏi cho nên dám đốt cháy đền tà, chống cãi yêu quỷ, một lần ra tay mà mối hận của cả thần và người đều được rửa. Nhân thế nức tiếng mà được giữ chức vị ở Minh tào, thật là xứng đáng. Vậy là kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi.” Lời bình này gợi ra trong tôi điều gì đó về Phan Khôi (!). Tất nhiên truyện xưa làm gì có ngụ ý gì về thời chúng ta, nhưng nếu Phan Khôi kể lại truyện này, hẳn có người sẽ lại “quy kết” Phan Khôi thâm ý ám chỉ người này, người kia! Tính khái quát tư tưởng của truyện là để lại bài học cho đời sau suy gẫm, không phải chỉ nhất thời. Ông Năm Chuột cũng có tính khái quát ấy.

Bạn đọc hôm nay cũng gặp cách kể truyện ấy ở Nguyễn Huy Thiệp. Nói vậy để thấy Phan Khôi liền một mạch giữa quá khứ và hiện tại trong dòng chảy văn chương nước Nam. Hay nói cách khác, Phan Khôi đã đi trước thời đại của mình. Tuy nhiên, tôi hơi tiếc vì Phan Khôi không đẩy nhân vật đi hết con đường lý tưởng đã chọn như nhân vật Huấn Cao trong Chữ Người Tử Tù của Nguyễn Tuân, mà để nhân vật ấy dở dang, phí phạm tài năng và tâm huyết. Có thể đó cũng là chỗ bế tắc của chính cuộc đời Phan Khôi, chỗ thương tâm của kẻ sĩ.” Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gẫy hay không là việc trời. Sao nên đoán trước là sẽ gẫy mà chịu đổi cứng ra mềm ru!”
Tháng 10 năm 2015

___________________________________________
(1) Thái kế Toại, Phan Khôi trong bối cảnh văn học từ thời chiến sang thời bình 1954-1958. http://newvietart.com/index4.1827.html
(2) Đào Vũ, Tạp chí Văn nghệ số 12 tháng 5-1958
(*) Bản in trên báo Văn số 36, ngày 10.01.1958
(3) Đỗ Lai Thúy: Phan Khôi và bước chuyển từ chính trị sang văn hóa: http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/phan-khoi-va-buoc-chuyen-tu-chinh-tri-sang-van-hoa
(4) Phan Nam Sinh : Cha tôi-Phan Khôi :
http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/van-hoc-sach/20130317/cha-toi---ong-phan-khoi/538416.html
(5) Lê Hoài Nguyên, VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN MỘT TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH MẠNG VĂN HỌC KHÔNG THÀNH
http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=13582
(6) Xin đọc các bài viết của
Hồng Quảng, Tạp chí Văn Nghệ tháng 4. 1958
Nguyễn Đổng Chi, Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa số 41 tháng 6-1958.
Phùng Bảo Thạch… báo Hà Nội hàng ngày 22 và 23-4-1958
Nguyễn Công Hoan, Tạp chí Văn nghệ số 12.1958
Đào Vũ, Tạp chí Văn nghệ số 12 tháng 5-1958
Thế Lữ. Báo Nhân dân số 1501 ngày 21-4-1958.

40 NĂM VĂN HỌC VIỆT NAM, NHỮNG GÌ CÒN VỚI MAI SAU-Bùi Công Thuấn

Mời bạn đọc bài viết 40 NĂM VĂN HỌC VIỆT NAM, NHỮNG GÌ CÒN VỚI MAI SAU -BÙI CÔNG THUẤN Trên các trang: https://buicongthuan.wordpress.com/2015/10/23/40-nam-van-hoc-viet-nam-nhung-gi-con-voi-mai-sau-bui-cong-thuan/ http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=21141, ngày 24.10.2015 http://trannhuong.net/tin-tuc-20019/40-nam-van-hoc-viet-nam-nhung-gi-con-voi-mai-sau.vhtm. Ngày 26.10.2015 http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=21142 (kỳ 2). Ngày 26.10.2015
__________________________________________ 40 NĂM VĂN HỌC VIỆT NAM, NHỮNG GÌ CÒN VỚI MAI SAU Bùi Công Thuấn (Tác giả giữ bản quyền) Lời thưa, Tôi không viết lịch sử văn học, cũng không ghi lại những sự kiện, những tác giả, tác phẩm, những trào lưu; không miêu tả diện mạo hay thành tựu của 40 năm Văn học Việt Nam (1975-2015). Trong khi chờ đợi những công trình nghiên cứu của Viện Văn học, của Hội Nhà Văn Việt Nam, của các nhà nghiên cứu lịch sử văn học, tôi chỉ ghi lại cảm nhận chủ quan của mình những gì mà mình đã chứng kiến và dõi theo trong 40 năm Văn học Việt Nam (1975-2015). Chắc chắn là một góc nhìn rất hẹp và không tránh được “những khác biệt” với những góc nhìn và cách tiếp cận khác. Điều ấy cũng là lẽ bình thường. Tôi chỉ hy vọng chia sẻ được điều gì đó với bạn đọc yêu văn chương dân tộc. Được vậy cũng đã là rất quý. Nhìn về quá khứ, rồi nhìn về tương lai, tôi tự hỏi, 40 năm Văn học Việt Nam (1975-2015) sẽ còn lại gì với mai sau?

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

THƠ THIẾU NHI CỦA TRẦN HOÀNG VY


THƠ TRẦN HOÀNG VY VIẾT CHO THIẾU NHI
(Đọc 98 bài thơ thiếu nhi cua Trần Hoàng Vy, nxb HNV 2015)

Bùi Công Thuấn






Thơ viết cho thiếu nhi rất khó. Bởi thế, trong số các nhà thơ hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam có được mấy người thành công trong sự nghiệp sáng tác dành cho thiếu nhi (!). Người ta thường nghĩ rằng, một tác phẩm viết cho thiếu nhi, trước hết phải có tính giáo dục. Điều này là một thuộc tính của học thiếu nhi, nhà thơ trước hết phải là nhà giáo dục. Tất cả những gì thuộc về “ cái tôi” trong thơ trữ tình đều phải nhường chỗ cho “Cái trẻ con” trong thơ thiếu nhi. Nhà thơ trữ tình buông thả hồn thơ trong mọi nẻo đường cảm xúc thì nhà thơ viết cho thiếu nhi phải tự trói buộc với trẻ, phải nhập thân vào trẻ, cảm nhận hiện thực như trẻ, nói tiếng nói của trẻ, sống trong thế giới thần thoại của trẻ; nhưng đồng thời nhà thơ phải đứng ngoài trẻ, tỉnh táo và có trách nhiệm dẫn dắt trẻ; và trên hết, nhà thơ vẫn phải là nhà thơ, tức là người sáng tạo cái đẹp bằng ngôn từ. Cho nên viết cho thiếu nhi, dù là thơ có mục đích giáo dục, thì thơ vẫn phải là thơ, và là thơ hay, thơ thiếu nhi cũng phải hấp dẫn với cả người lớn. Ôi, làm thơ cho thiếu nhi khó biết bao nhiêu! Tôi tự hỏi, Nhà thơ Trần Hoàng Vy đã vượt qua cái khó trở thành nhà thơ của trẻ như thế nào?

1.Nhà thơ-nhà giáo dục

Tất nhiên nhà thơ không phải là nhà giáo. Bởi nhà giáo là người có nhiệm vụ giáo dục trẻ theo mục tiêu, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp sư phạm ở trường. Nhà thơ giáo dục trẻ bằng cái đẹp của thơ ca. Thiếu phẩm chất này thơ viết cho trẻ không có chỗ đứng. Thực ra, tự thân văn chương đã mang chức năng giáo dục. Nhưng nhà thơ đem đến cho tâm hồn trẻ cái đẹp, sự khám phá cái đẹp, từ đó hình thành nên những phảm chất và giá trị nhân văn nơi trẻ.

Tập thơ 98 bài thơ thiếu nhi hướng đến các cháu Tiểu học, lứa tuổi mà tâm hồn còn rất trong trắng, lứa tuổi đang sống trong thế giới thần thoại, cổ tích, con người và vạn vật cùng một bản thể. Các cháu vui chơi với vật nuôi, với cỏ hoa, với thiên nhiên như vui chơi với người. Thơ ca thông qua đó để dạy cho trẻ tri thức xung quanh, dạy cho trẻ những phẩm chất nhân bản, hình thành cho trẻ những truyền thống dân tộc, gúp trẻ tiếp cận với thế giới hiện tại. Thơ Tần Hoàng Vy nói những điều như vậy thật tự nhiên, hấp dẫn và mới lạ.

Ở phố chẳng bao giờ thấy khói
Khói cơm chiều như khói ở quê
Ờ phố toàn mái tôn, mái ngói
Đâu mái tranh nghèo khói tỉ tê?

Nhớ khói, căn bếp của bà ấm
Gió mùa đông xao xác phên gầy
Màu khói ám, củ khoai lang nóng
Cứ lan dần trên những ngón tay…

Cháu xa quê, lần về thơ thẩn
Ngắm khói, ngắm tóc bà như mây
Sợ khói bay, sợ bà… đi mất
Nên chụp ảnh bà giữa khói cay…
(Khói bếp)
Tôi đọc bài thơ mà lòng bồi hồi xúc động nhớ lại hình ảnh bà tôi ngày xưa ở quê nghèo, và chắc chắn bạn đọc nào ở quê, đã từng được bà yêu thương chăm sóc, không thể không lặng người đi trước những tứ thơ tuyệt hay. Bài thơ vừa là tâm trạng, vừa là câu chuyện của cháu một lần về thăm bà; quan sát tinh tế, kể tự nhiên và bày tỏ chân thành. Đằng sau những yếu tố của cấu trúc thi ca là cái đẹp của tình bà, là sự khám phá cái đẹp trong khói bếp, là ngôn ngữ trần thuật sắc nét, có sức làm bùng nổ cảm xúc và lay động sâu xa trái tim bạn đọc. Bài thơ chứa đựng một thông điệp tế nhị. Hãy giữ lấy cái đẹp ấy, hãy giữ lấy tình cảm thân thương ấy dù cuộc sống thành thị có là mất đi bao điều tinh tế quý giá của tâm hồn Việt.

Trần Hoàng Vy giúp các cháu khám phá nhiều vẻ đẹp của tình gia đình và thông qua đó là những bài học nhẹ nhàng thấm thía.Tiếng ve nhắc cháu về thăm ông (Cám ơn tiếng ve), Ông thay bà đón cháu ở nhà trẻ, lỉnh kỉnh mọi thứ, nhưng cũng là đầy ắp tình thương (Ông đi nhà trẻ). Ông thay cô giáo giải đáp cho cháu những điều trái ngược mà cháu không hiểu, chẳng hạn tại sao trâu thì biết bơi, còn bò thì “Qua sông không được/ cứ kêu ụm bò…”( Ông ơi). Điều này chắc chắc các ô giáo ở thành phố không thể trả lời cho cháu được. Ông cũng dạy cháu những bài học từ cổ tích, thật giản dị cụ thể :”Gieo gió thì phải gặt bão/ Tham tàn phải gặp tai ương/ Làm người hiền phải thử thách/ Người tài phải lắm gian nan”(Cổ tích).

Hình ảnh người cha, người mẹ cũng được khắc họa ấn tượng trong tâm hồn trẻ qua những sinh hoạt đời thường: Bố làm con ngựa, Quà của ba, Con dế của bố, Sợi tóc bạc của mẹ, Dê con quỳ bú mẹ. Có khi chỉ một chi tiết rất nhỏ cũng đủ giúp trẻ nhận ra bao nhiêu tình yêu thương của mẹ.

Vở mới thơm giấy mới
Nắn nót mẹ đề tên
Bé bắt đầu lớp mới
Chăm ngoan nhé đừng quên
(Quyển vở mới)

Trần Hoàng Vy cũng dành nhiều bài rất hay nói với các cháu về tình quê hương, tình người, tình yêu tổ quốc: Quê hương, Nhớ Quê, Chợ quê, Chợ tết, Hồ Dầu Tiếng, Sông Vàm Cỏ, Hoàng sa, trường sa (Đảo), “ta phải đòi đảo ta”.Người hành khất, Dì lao công, chú phi công (Đu quay), cô giáo (Cô giáo bệnh, Tóc cô)
“. . . . . . . . . . . .
Những buổi bình minh nhuộm đỏ
Con thuyền đưa trẻ qua sông
Mái chèo vỡ đôi hạt nắng
Đến trường con chữ bềnh bồng

Buổi trưa vó đăng lộng gió
Lục bình xanh ngắt ven sông
Con cá quẫy mình trong vó
Dòng sông sóng vỗ phập phồng…”
(Sông Vàm cỏ)

Những chi tiết đời thường vào thơ thật tự nhiên, dung dị, nhưng dưới ngòi bút tài hoa của Trần Hoàng Vy, chúng hiện lên là những hình ảnh thơ tuyệt đẹp: lục bình xanh ven sông, con cá quẫy trong vó, những cần vó, bè đăng vươn lên trong nắng gió, con thuyền đưa trẻ qua sông….Tứ thơ này thì khó có nhà thơ nào khác vượt được Trần Hoàng Vy khi viết về sông nước :”Con thuyền đưa trẻ qua sông/ Mái chèo vỡ đôi hạt nắng”.Tôi cũng đã nhiều lần có mặt trên những con đò chở học trò qua sông buổi sáng có nắng lấp lánh trên sông, nhưng chỉ thấy mũi con đò rẽ sóng, rẽ vầng mặt trời long lanh dưới nước, chưa thể nhận ra điều thú vị này của “Mái chèo vỡ đôi hạt nắng” trên sông. Đó là cái đẹp và là những giá trị chỉ có thơ ca mới có. Vì thế dù cuộc sống có thế nào thì nhà thơ vẫn lừng lững diễm tuyệt trong không gian và thời gian, bởi vì nhà thơ giúp ta nhận ra cái đẹp ẩn mật ngay trong cái đời thường.

2.Những bài học từ thiên nhiên

Thơ viết về thiên nhiên, hoa trái, mùa màng là một mảng rất hay của Trần Hoàng Vy. Nếu so sánh với thơ thiên nhiên của thơ cổ điển, cùa thơ Lãng Mạn (1930-1945) và ca dao viết về thiên nhiên, bạn đọc sẽ nhận ra chỗ độc đáo thơ thiên nhiên Trần Hoàng Vy viết cho trẻ.

Trần Hoàng Vy giúp các cháu học biết về sự vật xung qung, nhưng cũng đồng thời khơi gợi trong các cháu cảm thức về cái đẹp trong thế giới thần thoại. Đó là chỗ sâu xa của giáo dục nhân bản. Nhiều bài thơ có thể làm cả bạn đọc người lớn kinh ngạc về vẻ đẹp của thiên nhiên sự vật mà ta đã có lần bắt gặp đâu đó.

Cánh sen khép cửa
Che nhụy, che hoa
Mưa qua lại nở
Hương se chan hòa

Có con ếch cốm
Che dù lá sen
Làm lăn hạt nước
Tưởng đêm lên đèn

Cao giọng học bài
Ộp à ộp ộp

Sau khi cho trẻ nhận biết về sen, nhà thơ cho trẻ thưởng thức cái cái đẹp hương sen. Bài thơ về sen chưa có gì đặc biệt. Câu chuyện phát triển bằng một tình huống bất ngờ. Đó là sự xuất hiện của con ếch cốm dưới lá sen. Có lẽ con ếch xoay mình làm rung rinh lá sen, và hạt nước trên lá sen lăn qua lăn lại. Tứ thơ độc đáo sáng lên:” Có con ếch cốm/ Che dù lá sen/ Làm lăn hạt nước/ Tưởng đêm lên đèn”. Nhân tiếng ếch kêu ồm ộp, nhà thơ nhắc nhở các cháu việc học bài.

Tập thơ còn có nhiều bài về các loài cây, loài hoa trái: Cây dừa, cây chuối, rừng sim, Hoa mai, chùm phượng sớm, bằng lăng, hoa gạo đỏ, Hoa cỏ hôi, Hoa dã quỳ, Thạch thảo, Lộc vừng, Quả thanh trè, quả mít, Hoa mồng gà, Hoa lan hài, đóa sen, Hoa đồng tiền. Thơ về bốn mùa, mưa nắng có nhiều bài hay, để lại những ấn tượng sâu nặng nghĩa tình: Tháng Ba, Nắng thu, Mưa, Mong mưa, Mùa xuân, Ngựa gọi xuân…

Lúa đồng mỏi mắt mong mưa
Sợi dây lang rũ ngọn lưa thưa gầy
Lá nằm thiêm thiếp trên cây
Bụi gai xấu hổ giăng đầy lối qua

Trở mình tiếng sấm thật xa
Ông mây còn mãi tà tà rong chơi
Giữa trưa đang nắng, mưa rơi
Trẻ con réo gọi, mưa rời rạc buông
Mong mưa lũ trẻ … tắm truồng
Ngàn cây thức dậy, đổi buồn làm vui
(Mong mưa)

Bài thơ nói được nỗi lòng người dân quê trong cơn nắng hạn. Hình ảnh thơ cực tả những cơn nắng làm héo rũ lòng người:” Sợi dây lang rũ ngọn lưa thưa gầy/ Lá nằm thiêm thiếp trên cây/ Bụi gai xấu hổ giăng đầy lối qua”. Phải là nhà thơ gắn bó cả đời mình với đồng quê mới có thể viết được những câu thơ hay xót ruột đến thế, và hẳn nhiên, những tứ thơ này cũng có sức gợi trong lòng trẻ tình yêu thương với cuộc sống ở quê.

Trong thế giới tâm hồn trẻ thơ thì loài vật là gần gũi và đông đảo nhất. Trần Hoàng Vy cũng có nhiều bài thơ hay khám phá cái đẹp của thế giới loài vật. Nhạc khúc vườn, Dàn kèn ếch, Ban nhạc đêm và Hòa âm vườn là những bài thơ khá tuyệt (tuy nhiên, chỉ những bạn đọc đã sống ở miền quê mới thưởng thức được cái diệu kỳ của thơ).

Bắt đầu tiếng trống Uềnh Oang
Vĩ cầm của Dế, tiếng đàn của Ve
Nhạc đêm trình diễn… sau hè
MC… cậu Cóc tiếng nghe đều đều

Vạc Sành tiếng hát rất phiêu
Con Xiển Tóc vỗ…cánh điều hoan hô
Fan là chuối với tần ô
Lá trầu, bụi xả, chậu ngò, rau răm…
(Ban nhạc đêm)
Máy lạnh là …lá rì rào
Trưa hòa âm bước lạc vào vườn mơ
Ve kim lảnh lót bất ngờ
Tiếng con dồng dộc lay bờ tổ rơm

Chim sâu lích chích thử đờn
Giọng chiền chiện giống tiếng hờn Nam ai
Em nằm trên võng lắng tai
Dòng song gió chảy trượt dài vào mơ…
(Hòa âm vườn)
Hai bài thơ này giới thiệu với các cháu nhiều loài vật của vườn quê, ban ngày cũng như ban đêm. Và nếu chỉ đem đến cho các cháu tri thức về thiên nhiên quanh mình như vậy cũng đã đủ cho mục đích giáo dục. Nhưng nhà thơ Trần Hoàng Vy còn đem các cháu vào thế giới âm nhạc với khả năng thẩm âm và thưởng thức âm nhạc rất tinh tế. Trong dàn đồng ca hợp xướng của muôn loài, thanh sắc của từng nhạc công vẫn hiện lên thật mượt mà, độc đáo và ấn tượng. Tiếng con dồng dộc lay bờ tổ rơm/ Chim sâu lích chích thử đờn/ Giọng chiền chiện giống tiếng hờn Nam ai…”,” Fan là chuối với tần ô/ Lá trầu, bụi xả, chậu ngò, rau răm…”. Thế giới thiên nhiên của muôn loài thật kỳ thú.

Và không chỉ có Dàn kèn ếch, Ban nhạc đêm và Hòa âm vườn, trong 98 bài thơ thiếu nhi còn nhiều con vật khác, mỗi con vật lại đem đến một điều thú vị riêng. Con vạc sành “Như chiếc lá… dán trên tường”, hải âu giữ biển. Con vịt, con cún, gió, bưởi, bòng vui ơi là vui khi mưa đến (Mưa sớm). Chim bói cá lẫn trong lá xanh, vút một cái mỏ đã xâu được cá. Con vện, mèo khoang, con gà tre ngây ngô biết bao trong những trò tinh nghịch. Hình ảnh con dế đi lạc thật đáng thương. Con gấu ở sở thú lại gợi cho các em nhiều bài học vệ sinh, đom đóm bay đêm lại là hình ảnh đóm đi học, thắp sáng quê hương (Đom đóm đi học), Con diều hâu gợi bài học lòng yêu thương đối mặt với cái ác. “Tiếng cu gáy” là một bài thơ về đồng quê đẹp xôn xao mùa thu, đầy màu sắc, ánh sáng và âm thanh của một vùng quê thanh bình.

Cúc cù cu…cúc cù cu
Tiếng con cu gáy gọi thu trở mình
Chợt vàng đồng ruộng lúa xinh,
Mùa đang mẩy hạt, uốn mình giăng câu

Tiếng con cu gáy hồi lâu
Xôn xao gió, nắng trên đầu vàng hoe
(Tiếng cu gáy)
Tập thơ cũng có những bài thơ hướng trẻ từ thiên nhiên đến đời sống xã hội. Nhà thơ đem đến cho trẻ nhiều bài học thú vị. Cháu sẽ nhặt lá cây mai ngày nào để mai nở hoa đúng dịp tết (Chim chính, bé và lão mai). Một vỏ ốc biển tưởng như vô ích lại trở thành giá trị trong bàn tay con người (Vỏ ốc biển). Ngôi sao trên biển cũng là ngôi sao trên mũ, thức cùng chú hải quân (Ngôi sao). Xóm giã bàng gợi ra nhiều suy nghĩ về những con người lao động. Cái đồng hồ nhắc nhở về giá trị của thời gian đối với đời người. Nuôi heo đất để ủng hộ ngư dân (Em nuôi con heo đất).Chiếc xe đạp con lại dạy các cháu sự cẩn thận và lòng nhân ái. Câu chuyện của ông cháu trên xe buýt tưởng đã rất quen, nhưng nhà thơ cũng khám phá thêm những giá trị nhân văn mới (Trên xe bus). Biển nhắc bài học đừng xây nhà trên cát. Đồ chơi công nghệ (Cái Ipad) cũng thấm thía bao tình cảm gia đình.

3. Thơ viết cho trẻ

Nhà thơ Trần Hoàng Vy đã có nhiều tác phẩm đặc sắc viết cho thiếu nhi, đồng thời anh cũng đạt nhiều giải thưởng từ địa phương tới trung ương. Vì thế, viết về thơ của anh mà nói chuyện khen chê, tôi nghĩ, chắc anh chỉ cười (!). Tôi chọn cách chia sẻ với anh những cảm nghĩ của mình về thơ viết cho trẻ. Biết đâu, tôi có thể hiểu biết thêm về những gì nhà thơ Trần Hoàng Vy đã đóng góp cho văn chương thiếu nhi Việt Nam.

Đọc thơ viết cho thiếu nhi của Trần Hoàng Vy, tôi thấy anh đã sử dụng rất thành công nhiều yếu tố của thi pháp ca dao, đồng dao để viết được những bài dồng dao mới rất hay. Đồng dao nhiều bài dạy cho trẻ về sự vật xung quang (Cái bống là cái bống bang; Ông trăng xuống chơi cây cau; Con tôi buồn ngủ buồn nghê…), Trần Hoàng Vy cũng có những bài dạy cho trẻ về sự vật mà đồng dao không có (Nghỉ hè, trái rừng về phố, Mưa sớm, Chim chích, bé và lão mai, Tháng Ba…). Đồng dao có bài là một câu chuyện ngộ nghĩnh và đa nghĩa: Con mèo mà trèo cây cau, Con vỏi con voi / cái vòi đi trước…Trần Hoàng Vy cũng có nhiều bài thơ kể chuyện sống động : Đom đóm đi học, Dàn kèn ếch, Khúc nhạc vườn, Người hành khất, Khói bếp, Chợ tết . Nhiều bài trong tập 98 bài thơ thiếu nhi có thể dùng hát ru như hát ru của ca dao (Tiếng cu gáy, Làm chị, Chợ quê, Cây chuối)

Đồng dao còn có những bài hát không có nghĩa nhưng có hình ảnh ngộ nghĩnh được trẻ hát trong các trò chơi như rồng rắn đi đâu, Thiên đàng địa ngục, Chi chi chành chành.
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết trương
Ma vương thượng đế
Dắt dế đi tìm
Ú tim thằng bé
U…ập
Tôi lại ước ao nhà thơ Trần Hoàng Vy sáng tác những trò chơi và những bài đồng dao đi kèm chơi trò chơi ấy. Và nếu có thêm những bài thơ kể truyện như ca dao (Con mèo mà trèo cây cau hay Thằng cuội ngồi gốc ây đa, Cái cò các vạc, cái nông/ sao mày dẵm lúa…) thì thơ thiếu nhi của anh sẽ có nhiều cơ hội đi sâu vào thế giới tâm hồn trẻ thơ.

Nhưng ngay trong tập 98 bài thơ thiếu nhi này, tôi cũng thấy nhiều bài đáng được đưa vào sách giáo khoa cho các cháu học, vì giá trị giáo dục và giá trị thẩm mỹ rất cao. Xin chúc mừng nhà thơ Trần Hoàng Vy nhân dịp anh phát hành tập thơ.

Tháng 9 năm 2015

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

BCT ĐIỀU KHIỂN HỢP XƯỚNG CA NGỢI TỔ QUỐC

LONG KHÁNH KỶ NIỆM 40 NĂM GIẢI PHÓNG 21.04.2015 BCT ĐIEU KHIỂN HỢP XƯỚNG CA NGỢI TỔ QUỐC, CA KHÚC CỦA HỒ BẮC. BCT HÒA ÂM CA ĐOÀN GX CHÍNH TÒA VÀ XUÂN KHÁNH THỂ HIỆN

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

NGUYỄN DU-LỊCH SỬ VÀ TIỂU THUYẾT

NGUYỄN DU-LỊCH SỬ VÀTIỂU THUYẾT
(Đọc Nguyễn Du, tiểu thuyết của Nguyễn Thế Quang. Nxb HNV 2010)
Bùi Công Thuấn





Đọc tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Du của Nguyễn Thế Quang, tôi có nhiều điều thú vị và ngẫm nghĩ định viết. Nhưng khi đọc những ý kiến của nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà văn Hà Quảng và nhà giáo Lê Thái Phương in ở cuối cuốn tiểu thuyết này, tôi thấy cuốn sách đã được khẳng định giá trị. Rất nhiều lời khen dành cho tác giả và cuốn sách. Thành ra tôi đắn đo khi viết những dòng này. Tôi sẽ không nhắc lại những giá trị của cuốn sách đã được các tác giả trên khẳng định. Tôi lần theo ý thức sáng tạo của tác giả để đọc tác phẩm theo một góc nhìn khác. Ý kiến của nhà văn Nguyễn Thế Quang khi trả lời phỏng vấn của nhà văn Nguyễn Khắc Phê gợi cho tôi nhiều điều ngẫm nghĩ:”Quang chỉ là chỉ là nhà giáo mê văn chương và kính trọng cụ Nguyễn Du, muốn viết về cụ để trước hết chia sẻ cùng đồng nghiệp và các em học sinh; Quang cũng muốn ký thác vào đó những suy ngẫm của mình trước những thăng trầm, “dâu bể” của cuộc đời, của lịch sử đất nước. Ngoài ra Quang cũng rất tự hào về mảnh đất núi Hồng sông Lam đã sản sinh một con người có cốt cách và tài năng bậc ấy”(1)


1.Đôi điều băn khoăn

Tác giả đã nói rất rõ thái độ và mục đích sáng tác tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Du. Ông yêu quý và kính trọng Nguyễn Du, một con người có cốt cách và tài năng vượt bậc. Ông ”cũng rất tự hào về mảnh đất núi Hồng sông Lam đã sản sinh” ra Nguyễn Du.

Nguyễn Thế Quang đã dành tất cả bút lực, tâm huyết của mình để ca ngợi Nguyễn Du. Và khắc họa nhân vật Nguyễn (tên tác giải gọi Nguyễn Du) qua góc nhìn của nhiều nhân vật khác. Tất cả cùng cất lên lời tụng ca. Những người trong gia tộc cùng với con cháu Nguyễn hết lòng thán phục Nguyễn là bậc kỳ tài (tr.259). Dân gian, làng quê khắp chốn đọc Kiều, lẩy Kiều làm cho Nguyễn rất thích (tr.391). Đặc biệt, tác giả viết hẳn một chương hai cha con vua Gia Long, Minh Mạng dành cho Nguyễn sự cảm thông sâu sắc và cảm tình đặc biệt (Chương 2, phần kết). Gia Long nhận xét:”Nguyễn Du- con Xuân quận công, tài trí đức độ hơn người”; Gia Long say mê đọc Kiều, tâm đắc gật gù:”Tuyệt kỳ! tuyệt bút!”; ”Văn chương như thế thật là tuyệt bút”. Hoàng thái tử Đảm (vua Minh Mạng) cũng phụ họa với vua cha: “Con người ấy văn chương trác tuyệt mà hiểu biết sâu xa”.

Trong suốt cuốn tiểu thuyết, người đọc có thể bắt gặp nhiều lần những lời có cánh tác giả dành cho Nguyễn như vậy. Trong đêm uống rượu dưới trăng, Nguyễn Thiện quan sát thần thái của Nguyễn:”khuôn mặt chú dưới ánh trăng ửng hồng trông đẹp như một tiên ông đạo cốt vậy” (tr.245), bác Bảy-Đệ nhất An Nam ngũ tuyệt.(tr.247). Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường, hai đại công thần của Gia Long cùng bị giam trong nhà ngục. Hai kẻ thất sủng ấy cùng uống rượu cay đắng luận bàn thế sự. Thành luận về Nguyễn :”Cậu ấy không phải là con người thường: vẫn làm quan, vẫn có cơm ăn tuy không nhiều như chúng ta nhưng Nguyễn vẫn là Nguyễn, không ham hố, không tranh giành, danh lợi không làm bẩn được, uy quyền không làm cậu ấy sợ mà cũng không quyến rũ được, giữa bão táp vẫn bình thản, không dao động, không chìm, lặng lẽ viết để thỏa chí”(Tr.297).

Tôi thực sự hoài nghi những lời tụng ca của Nguyễn Văn Thành (1758-1817) dành cho Nguyễn. Chỉ những người “chọc trời khuấy nước, trí dũng có thừa”, có tấm lòng giúp dân giúp nước (như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát sau này) mới xứng với lời tụng ca ấy. Trong thực tế, người ta chỉ ca ngợi Nguyễn Du về tài văn chương truyện Kiều, còn hành trạng làm quan của ông không có gì đáng ca ngợi cả. Dù tác giả có miêu tả một vài vụ Nguyễn Du xử án công minh thể hiện lòng thương dân (tr.107, 134), hoặc mở kho cứu dân (Tr.101) thì những công việc ấy không thể coi là hành trạng phi thường được, bởi Nguyễn vừa làm vừa run (tr.100), và việc Nguyễn ra làm quan với Gia Long, được thăng chức liên tục, Nguyễn tận tụy làm việc cho đến cuối đời, cũng đã gây nên mối hoài nghi về nhân cách của kẻ sĩ nơi Nguyễn, trong khi cùng thời, nhiều người khác không ra làm quan với Gia Long. Ngay trong dòng họ của Nguyễn, Nguyễn Nghi, Nguyễn Lạng, Nguyễn Nhưng, Nguyễn Tốn, các cháu Nguyễn Hành, Nguyễn Thiện cũng sống ẩn dật (tr.151)

Trong khi hết lời ca ngợi Nguyễn, tác giả lại không tiếc lời miệt thị Lê Văn Duyệt. Tác giả gọi Lê Văn Duyệt là “tên mặt sắt”(Tr.267, 275,), luôn dùng thủ đoạn hại người (tr313), “quan viên nào cũng sợ Duyệt như sợ cọp”(tr.306). Đặng Trần Thường nhận xét:”Hắn là thằng thèm khát quyền lực. Từ nhỏ đã hung hãn, 15 tuổi hắn đã nòi ‘sinh làm trai thời loạn, không dựng được cờ đại tướng, chép công dasnh vào sử sách, không phải là trượng phu’. Đánh giặc hắn đã làm được thế. Giờ giặc tan, tuy đều đệ nhất công thần nhưng hắn là kẻ vô học chỉ biết đánh trận…”(tr.291)

Thực ra Lê Văn Duyệt là người có tài quân sự, chính trị. Ông dám đề nghị với Gia Long lập hoàng tôn Đán (tr 275), không lập hòang thái tử Đảm (vua Minh Mạng). Là người tài giỏi, ông được giữ chức Tổng trấn Gia Định hai lần, triều Gia Long, và triều Minh Mạng. Ông chăm lo đời sống nhân dân, trị an xứ sở. Vùng đất Gia Định trải dài từ Bình Thuận tới Cà Mau kinh tế phát triển, đời sống nhân dân yên ổn, no ấm. Người dân Nam Bộ hết lòng tôn kính…Cái nhìn miệt thị Lê Văn Duyệt của tác giả quả là không khách quan và công bằng đối với lịch sử. Có lẽ vì quá thần tượng Nguyễn Du nên ngòi bút của Nguyễn Thế Quang không giữ được sự thăng bằng cần thiết chăng? Cũng vậy, Gia Long có công thống nhất đất nước và thiết lập một triều đại vững mạnh bằng nhiều biện pháp chính trị không ngoan, song ca ngợi Gia Long (tr.384, 385, 389…) như một minh quân nhân đức, thương dân, trọng người hiền tài sáng suốt cai trị dân, có lẽ cần phải xem lại, cần có cái nhìn khách quan, công tâm với lịch sử (dù là lịch sử trong tiểu thuyết)

Ngoài ra, để cho Nguyễn đồng thuận thái độ quyền lực của Gia Long, tôi nghĩ, tác giả đã bắt Nguyễn quỳ mọp trước sự tàn bạo của Gia Long (tr.347, 352), còn đâu là sĩ khí? Gia Long nói với Nguyễn: “…Ta có làm nhiều điều mà thiên hạ cho là tàn bạo, ta không muốn, nhưng ta phải làm, nếu không ta sẽ chết và không có được giang sơn ngày nay. Tần Thủy Hoàng tàn bạo lắm phải không? Đúng-tàn bạo quá! Diệt Kiến Tần thì được, nge lời Lý Tư mà đốt sách chôn nhà nho và học trò thì không được. Thế nhưng không có Tần Thủy Hoàng thì Trung Hoa không thống nhất. Điều này ngoài Tần Thủy Hoàng ra không ai làm được.

Nguyễn nghĩ: điều này thì đúng thật và hoàng thượng là một Tần Thủy Hoàng khôn khéo hơn, biết hơn”

Trong cách giải quyết sự bế tắc tư tưởng, Nguyễn Du đã tìm thấy con đường của riêng mình. Nguyễn Thế Quang không theo con đường ấy mà sáng tạo một con đường khác. Tác giả đã viết một chương đầy cảm hứng miêu tả Nguyễn trước khi nhắm mắt xuôi tay đã hướng về nước Phú-Lang-Sa, với lý tưởng “Tự do! Bình đẳng, Bác ái” (tr. 420). Nghe Chaigneau Thắng (tr.407-413) nói về nước Pháp, Nguyễn bừng ngộ về một đất nước mà người dân quyền tự do thân thể, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí,“con người được đứng về phía sự thật, nói lên sự thật, bảo vệ sự thật mà không bị vùi dập”. Nguyễn reo mừng, không sợ hãi. “Ta đã biết được con đường sống của con người là: Tự do! Bình đẳng! Bác ái! Ta chết cũng được rồi. Cái mà bao năm ta đau khổ, ta tìm cũng là cái mọi người, mọi nơi tìm. Ta chưa bao giờ có cái đó. Việt Nam, Chân Lạp và cả Trung Hoa cũng chưa có điều đó. Nhưng có một nơi-Phú Lang Sa có được điều đó. Ôi Phú Lang Sa, mảnh đất ta chưa hề biết”(tr.418)

Cách giải quyết này của Nguyễn Thế Quang là cách nhìn của một nhà tiểu thuyết, có thể chấp nhận được. Song trong suốt tác phẩm, viết về Nguyễn Du và các nhân vật khác, tác giả tôn trọng và bám sát chính sử, thì cách kết này không thể đứng vững. Bởi chuyển từ bút pháp hiện thực sang bút pháp lãng mạn mà không có cơ sở thực tiễn thì lãng mạn ấy là không tưởng. Ở Pháp, những năm đầu thế kỷ 19, tình hình chính trị hết sức rối. Nước Pháp chưa có một nền Cộng hòa ổn định và đời sống dân chủ tốt đẹp. Từ sau cách mạng 1789, Napoléon đảo chính, tự xưng hoàng đế 1804, rồi chiến tranh với các nước châu Âu và Nga. Nước pháp đế chế trải qua nhiều biến động, nhiều lần lật đổ. Mãi đến 1870 thì nền Cộng hòa thứ ba mới thay thế. Vì thế những điều Chaigneau Thắng nói với Nguyễn Du về một nước Pháp “Bình đẳng, tự do, bác ái” vào những năm 1819 thật khó thuyết phục.

Bản thân Nguyễn Du khi kết thúc truyện Kiều đã tìm thấy con đường của mình. Ông chấp nhận Thiên Mệnh, nhưng theo Phật. Phật dạy: “tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình”(tr. 342). Nguyễn Du viết: Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa/ Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Để Nguyễn hướng về nước Pháp dân chủ, tự do, có lẽ tác giả muốn Nguyễn đi trước thời đại? Thực tế, Nguyễn không có được tầm nhìn này, tầm nhìn về một cuộc cách mạng chính trị. Nhân vật Từ Hải được coi là nhân vật lý tưởng của Nguyễn Du đã phải chết tức tửi như một thằng “hèn’ (Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn).

Điều băn khoăn lớn nhất với người đọc trong tiểu thuyết này là phần III Đoạn Trường Tân Thanh (tr.223-260). Nguyễn Thế Quang, theo chính sử, cho rằng Nguyễn Du viết truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc về (1814). Ở Bắc Kinh, Nguyễn được một Việt kiều giúp đỡ và tặng một cuốn Kim Vân Kiều Truyện (tr.198). Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, mục Nguyễn Du, chép:" Ông giỏi thơ lại sành quốc âm sau khi đi sứ về có tập Bắc hành thi tập và Truyện Thúy Kiều truyền lại đến nay ". Nguyễn Thế Quang miêu tả, khi đi sứ về, Nguyễn xin phép về quê 6 tháng với lý do tu sửa phần mộ. Ở quê, Nguyễn cho làm Vọng Giang Đình bên sông để viết truyện Kiều. Nguyễn hoàn thành truyện Kiều trong 4 tháng (tr. 256), với tâm nguyện “Ta phải lập thân bằng con đường lập thư, lập ngôn” để đời.(tr.151,184). Nguyễn Thiện ca ngợi chí hướng “lập thư” của Nguyễn:”Chú ta sống qua ba triều, nhà nghèo nhưng cũng sẽ bất tử với Đoạn Trường Tân Thanh. Thì ra chí hướng lập thư chú đã ôm ấp từ lâu”(tr. 239)

Vấn đề Nguyễn lập thân bằng “lập thư, lập ngôn” cũng là vấn đề cần được xem xét. Kẻ sĩ ngày xưa quan tâm đến việc lập đức (như Khổng Tử), lập công (như Trần Hưng Đạo). Việc lập thân bằng văn chương bị coi là thấp kém. Nguyễn Công Trứ viết về kẻ sĩ:”Trong lang miếu, ra tài lương đống,/ Ngoài biên thùy rạch mũi can tương.(Kẻ sĩ) Và có thể Nguyễn Du cũng đã đọc Viên Mai (1716-1797): Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch / Lập thân tối tiểu thị văn chương, (sau này cụ Phan Bội Châu viết lại : Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch
Lập thân tối hạ thị văn chương). Như vậy gán cho Nguyễn Du chí hướng lập thân bằng lập ngôn, lập thư, để rồi đem hết sức lực viết truyện Kiều, tôi e là hạ thấp Nguyễn Du (?)

Nếu nói Nguyễn Du lập ngôn trong truyện Kiều, thì ấy là, Nguyễn Du kể truyện Kiều để chứng minh cho thuyết “tài mệnh tương đố” mà ông suy gẫm. Cuộc đời Kiều được xây dựng là một con người tuyệt vời tài sắc (“Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”), vì thế Kiều phải chịu khổ (“Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”). Con đường thóat khổ theo Nguyễn Du là “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài). Phần mở đầu và phần kết truyện là phần Nguyễn Du lập ngôn, Nguyễn Du trình bày nhận thức của mình có tính khái quát để lý giải số phận những bậc tài hoa mệnh bạc. Kể lại cuộc đời Thúy Kiều, Nguyễn Du không để lại cho đời những “kinh” như Đức Phật, Khổng Tử, Lão Tử…Cuộc đời của Thúy Kiều chỉ là một minh chứng cho thuyết “tài mệnh tương đố” của Nguyễn Du.

Nguyễn Du chỉ mượn truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà trình bày nhận thức của mình. Dân gian yêu mến truyện Kiều không phải vì cuộc đời nàng Kiều, một tiểu thư khuê các Trung Quốc, rất xa lạ với người nông dân Việt Nam, mà yêu mến truyện Kiều vì nhân dân có thể lẩy ra trong truyện Kiều những câu thơ mang tâm tình và suy nghĩ Việt (tr.390). Còn những nhà phê bình, nhà nghiên cứu thì ca ngợi tư tưởng nhân đạo, tư tưởng tự do, ca ngợi tài kể chuyện, tài tả tình tả cảnh của Nguyễn Du, nâng truyện Kiều lên thành một áng văn trác tuyệt, bất hủ,… Ấy là quyền của người đọc. Còn Nguyễn Du khi viết truyện Kiều có mục đích đó không, tôi nghĩ chúng ta không nên gán cho Nguyễn cái mục đích và chí hướng ấy.

Vì giả như, nếu Nguyễn Du không gặp được Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, thì liệu Nguyễn Du có sáng tác được cuốn truyện khác như Đoạn Trường Tân Thanh không? Điều này Nguyễn Thế Quang đã cho thấy, Nguyễn hoàn toàn bất lực (tr.360).

Vấn đề thời điểm Nguyễn Du sáng tác truyện Kiều vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, đa phần chỉ là suy đoán, không có cứ liệu xác thực. Chẳng hạn, căn cứ vào việc Nguyễn Du kiêng húy tên hoàng tộc, có nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Du viết Kiều trước khi ra làm quan với Gia Long (2). Nguyễn Thế Quang căn cứ vào Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện và Đại Nam Thực Lục Chính Biên, từ đó sáng tạo một chương Gia Long gặp Nguyễn bình thơ Kiều (Chương 7-phần IV). Gia Long nói với Nguyễn:”Trẫm đã đọc “Đoạn trường tân thanh” của khanh. Khá lắm. Đó là tinh hoa của đất trời. Khanh đã làm vẻ vang cho người Việt, văn chương từ xưa đến nay chưa thấy bao giờ”. Khi Gia Long hỏi sao Nguyễn không làm thơ ca ngợi Gia Long, và bắt chẹn Nguyễn rằng “ngươi không chịu làm chứ gì?”(tr. 353), thì Nguyễn “bủn rủn“ biết mình chắc chết, vậy mà Gia Long lại khen :”Khá lắm, thế mới là Nguyễn Du của trẫm chứ…nhà thơ đích thực thì không được xu nịnh bất kỳ ai kể cả quyền lực và mỹ nữ”(tr.354) Tôi e rằng Nguyễn Thế Quang có phóng bút quá không?

Làm gì có một Gia Long phóng khoáng và bao dung đến vậy khi Nguyễn Văn Thuyên chỉ làm một bài thơ khẩu khí thôi (3) thì cha là công thần Nguyễn Văn Thành đã bị bức tử trong ngục (phần IV, chương V, tr 313-332). Huống chi Nguyễn chỉ là viên quan của cựu triều, chẳng có công lao gì trong việc giúp Gia Long lập quốc. Nguyễn đã viết những câu quyết liệt khi ra làm quan với Gia Long, không coi Gia Long ra gì cả: “Bó thân về với triều đình/ Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu/ Áo xiêm ràng buộc lấy nhau/ Vào luồn ra cúi công hầu mà chi/ Sao bằng riêng một biên thùy/ Sức này đã dễ làm gì được nhau/ Chọc trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai. Nếu Gia Long đọc đoạn này, thì đây là một cái tát thẳng cánh Nguyễn đánh vào mặt Gia Long, làm sao Gia Long để cho Nguyễn yên thân, nói gì đến việc Gia Long ca ngợi Nguyễn trên mây! Và dạy cho Nguyễn biết chức năng của văn chương:”này, Hãy viết làm sao cho con người yêu thương nhau nhưng kích động nổi dậy chống triều đình là không được đâu nhé. Lúc đó thì dù quý đến mấy cái tài của khanh ta vẫn phải lấy cái đầu của khanh để trị yên thiên hạ đấy. Nhớ chưa ?”(tr.357).

Đây là đoạn thơ có nhà nghiên cứu dùng để đặt ra giả thuyết rằng Nguyễn Du viết truyện Kiều trước khi ra làm quan với Gia Long, bởi nếu Nguyễn Du viết trong thời Gia Long thì số phận của ông cũng sẽ như Nguyễn Văn Thành. Tôi không rõ tác giả xây dựng nhân vật Gia Long bao dung và cao thượng với Nguyễn Du vì mục đích gì. Vì tôn trọng thiên tài Nguyễn Du chăng? Điều này chắc chắn là không. Vua chúa xưa rất sợ người tài. Công trạng như Nguyễn Trãi còn bị nhà Lê tru di. Nguyễn Du nào có công trạng gì với Gia Long? Sau này, khi các nhà nghiên cứu tìm được cứ liệu xác thực về việc Nguyễn Du viết truyện Kiều trước khi ta làm quan với Gia Long, thì tất cả những gì Nguyễn Thế Quang sáng tạo sẽ sụp đổ.

2.Những ký thác

Nếu những điều Nguyễn Thế Quang viết về Nguyễn Du không phải là của Nguyễn Du thì đó chính là những ký thác của tác giả. Ở những trang, những dòng ký thác, văn mạch tách hẳn chính sử. Tác giả viết bằng một giọng thiết tha, một niềm say mê khôn nguôi và một cảm xúc lãng mạn bay bổng. Dù tác giả là mượn chuyện xưa để nói, dù dùng cách nói ngụ ý bóng gió, thì những vấn đề của ngày hôm nay vẫn hiện lên rất rõ. Thái độ của tác giả tuy nhiệt thành, song vẫn e dè chừng mực tránh né, rằng điều mình kể, mình bình luận qua miệng nhân vật chỉ là chuyện ngày xưa.

Viết về tình trạng quan chức thời Gia Long, rất nhiều lần Nguyễn Thế Quang để cho Nguyễn Du than phiền về tình trạng tham nhũng, đâu cũng tham nhũng (4), đâu cũng tăm tối. “”Bao nhiêu năm rồi lòng Nguyễn không an… bất lực trước sự tham nhũng của quan lại, mà dân chúng ngày càng đói nghèo.” (153) Phải chăng Nguyễn Thế Quang cũng ngao ngán về tình trạng tham nhũng của một bộ phận quan chức Nhà nước hiện nay?

Ước mơ của Nguyễn về một xã hội “Tự do! Bình đẳng! Bác ái”, “con người được đứng về phía sự thật, nói lên sự thật, bảo vệ sự thật mà không bị vùi dập” (tr. 412), người dân có quyền tự do thân thể, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những ước mơ ấy cũng là ước mơ của tác giả trước thực tại hôm nay?

Rõ nhất là khát vọng về vai trò của kẻ sĩ (5) và quyền tự do viết của nhà văn. Nguyễn xin với Gia Long cho mình được viết theo ý mình (tr. 354) và Nguyễn bất lực không thể viết được khi hình dung ra lúc nào cũng có đôi mắt của Gia Long theo dõi, răn đe :”Nguyễn chợt nhớ lời truyền của Ngài ’kích động nổi dậy là không được đâu nhé. Lúc đó thì dù quý đến mấy cái tài của khanh ta vẫn phải lấy cái đầu của khanh để trị yên thiên hạ đấy’Hoàng thượng ơi! Thế thì thần còn viết được gì nữa. Muốn yên thiên hạ thì thiên hạ phải nghe lời : Hoàng thượng muốn thần chết thì thần phải chết. Thiên hạ phải cúi đầu. Không! Văn chương không phải để làm điều đó. Làm sao mà viết được thứ văn chương đó! Nguyễn cảm thấy những tờ giấy, các nghiên mực ấy như đôi mắt của Gia Long đang theo dõi”(tr.363). “Hoàng thượng ơi! Người ban cho thần cơm trắng, giấy thơm, bút quý, nhưng không ban cho thần tự do thì làm sao thần có thơ văn hay được. (tr. 366).

Trong tiếng kêu thương của nhân vật Nguyễn, người đọc thấy rõ tiếng kêu thiết tha của tác giả đối với những người có trách nhiệm trong việc giúp nhà văn có thể sáng tác được văn thơ hay. Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như tác giả nghĩ. Bởi cần phân biệt tự do chính trị với tự do sáng tạo. Chẳng ai có thể ban cho nhà văn quyền tự do sáng tạo. Tự do là bản chất của sáng tạo. Còn thơ văn hay dở là do tài năng thiên phú của người viết. Không thể muốn viết gì thì viết, viết theo ý mình, là có thơ văn hay. Dùng ý tưởng này để lý giải tại sao Nguyễn Du bất lực, không viết được về thực tại đời sống xã hội Việt Nam thời Nguyễn sống, quả thực chưa thuyết phục.

Nguyễn Du không viết vì ông cố ý né tránh, vậy thôi, vì ông đã nói trong những bài thơ chữ Hán (Bắc Hành Tạp Lục) khá cụ thể rồi. Còn tại sao Nguyễn Du lại né tránh viết về thực tại Việt Nam lúc sinh thời, điều này xét về bối cảnh chính trị thời Gia Long và về thái độ sống của Nguyễn, ta có thể hiểu. Tôi hiểu Nguyễn Thế Quang muốn nói về nhà văn hôm nay. Nếu vậy, điều này là một ngộ nhận. Xin nhớ lại, trước thời kỳ “đổi mới”, nhiều người cầm bút nghĩ rằng nếu được “cởi trói” thì sẽ có thể viết được những tác phẩm để đời. Bây giờ nhìn lại văn chương thời kỳ đổi mới (1986-1996), có bao nhiêu tác phẩm làm nên khí cốt, diện mạo và giá trị tinh thần Việt Nam? Hay đa phần là “phê phán hiện thực” mà người ta gọi là “văn học thức tỉnh”? Và những nhà văn người Việt ở hải ngoại, họ có quá dư thừa “tự do”, nhưng cho đến nay chưa ai viết được tác phẩm nào có thể dự giải Nobel văn chương! Chính tài năng mới quyết định sáng tạo.


3. Về những sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Thế Quang

Những chương hay tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Du của Nguyễn Thế Quang, là những chương tác giả thực sự sáng tạo. Nội dung những câu truyện được kể ở những chương này nằm ngoài chính sử. Những khoảng trống của lịch sử đã được làm sáng lên. Ở đây Nguyễn Thế Quang thể hiện được chất tài hoa của ngòi bút, năng lực hư cấu, sáng tạo. Nếu bỏ qua góc nhìn lịch sử mà hòa mình vào thế giới tiểu thuyết, người đọc sẽ cảm thấy thật thú vị. Những chương này tạo nên những sắc màu thẩm mỹ phong phú. Đó là những chương viết về việc Nguyễn xử án khi làm Cai bạ Quảng Bình, chương Nguyễn vi hành (Phần II, chương 5), chương tả Nguyễn cầu hồn Khuất Nguyên (Phần II, chương 11), chương Gia Long xử Nguyễn Văn Thành (phần IV, chương 1), gặp gỡ Nguyễn và Hồ Xuân Hương (phần II, chương 8), gặp gỡ Gia Long và Nguyễn (Phần IV, chương 7).

Tuy vậy dấu vết nghề nghiệp in rất rõ trên những chương tác giả kể lại quá trình Nguyễn viết truyện Kiều (phần III, Đoạn trường tân thanh) và chương Gia Long bình văn Kiều. Đọc kỹ sẽ thấy rằng phần này chỉ là những bài giảng truyện Kiều cho học sinh phổ thông, được dựng thành cảnh để thành một chương tiểu thuyết, qua đó lý giải việc Nguyễn đã sáng tác truyện Kiều như thế nào. Tác giả để cho Nguyễn giảng thơ mình, để con cháu phụ họa tung hứng. Chất liệu được khai thác là: đoạn thơ mở đầu truyện Kiều (tr. 231), đoạn Kiều bị Sở Khanh lừa gạt, bị Tú Bà đánh (tr.233), Kiều lầu xanh (tr.238), luận về các câu Kiều : chọc trời khuấy nướcmặc dầu.., tu là cõi phúc tình là dây oan, Chính danh thủ phạm tên là hoạn Thư (việc tha cho Hoạn Thư), về cái chết của Từ, và về chữ Tâm (tr.258). Người đọc thấy rõ sự võ đoán và sự áp đặt máy móc suy nghĩ của tác giả vào miệng Nguyễn. Điều này có thể làm cho người đọc khó chịu. Xin đọc một đoạn giảng Kiều:

Nguyễn Hành nói:
- Thưa chú. Biển khổ đầy vơi ta làm sao biết được. Nhưng đọc “Đoạn trường tân thanh” của chú con người được an ủi hơn và có thêm khát vọng. “Đoạn trường tân thanh” bao trùm một chữ Tâm, nó nối tiếp cái đã qua, mở ra cái sắp tới, đó là Đạo. Nó sẽ sắp đặt công việc của đất trời, chính nó là Văn. “Đoạn trường tân thanh” không phải “Mua vui cũng được một vài trống canh” mà chừng nào con người còn sống cảnh trói buộc, còn bị khổ đau thì con người còn đọc nó.

Nguyễn nhìn hai cháu mắt sáng lên…” (tr.258)

Đó là Nguyễn Hành nói về đoạn kết truyện Kiều.

Nguyễn Thế Quang để cho nhân vật “tán” Kiều theo kiểu Hoài Thanh, dựa trên trực giác chủ quan, hoàn toàn cảm tính và áp đặt. Nghĩa của những chữ “Tâm, Đạo, Văn” mơ hồ, nếu không nói là không đúng với Kinh nghĩa của Phật về Tâm (Bát Nhã tâm kinh, kinh Kim Cang), của Đạo Đức Kinh (Lão Tử) về Đạo, và định nghĩa của Lưu Hiệp trong Văn Tâm Điêu Long về Văn. Tôi nghĩ, toàn bộ phần III, Nguyễn sáng tác truyện Kiều nên có cách dựng khác, thay vì dựa vào một vài đoạn thơ Kiều rồi “tán” vu vơ, thiếu cơ sở khoa học lịch sử. Cách viết “tán” như giảng bài cho học sinh phổ thông vừa không có giá trị tiểu thuyết, vừa dễ mắc sai lầm, vì diễn giải là vô tận. Chẳng hạn, tác giả lấy lời của Mộng Liên Đường năm 1820 gắn vào miệng Nguyễn Hành nhận xét về Nguyễn năm 1814 là một cách làm thiếu sự chuẩn xác khoa học (tr.259) (6). Áp đặt cho Nguyễn những điều không phải của Nguyễn (tr. 145, 151, 152, 184, cả phần III…) là thiếu tính chân thực lịch sử. Những người không biết đọc tiểu thuyết sẽ tin Nguyễn Thế Quang viết đúng sự thật lịch sử, trong khi các chương kể lại quá trình Nguyễn Du sáng tác truyện Kiều hoàn toàn là võ đoán và không tránh được sự hàm hồ (chẳng hạn như đoạn trích ở trên). Điều này có mâu thuẫn không khi chính tác giả kêu gọi: “sự thật lịch sử thế nào phải trả lại thế ấy” (tr.112)
Nguyễn Thế Quang không có cách tân gì trong nghệ thuật viết tiểu thuyết. Cách kể truyện của ông mạch lạc, lớp lang, dễ hiểu. Ông miêu tả tâm trạng nhân vật bằng kỹ thuật “nhớ”, nhân vật hồi tưởng lại sự việc, thay vì miêu tả trực tiếp (7). Có điều ông quá lạm dụng kỹ thuật này thành ra nhân vật chỉ có phần “hồn” mà thiếu đời sống xã hội. Gần như mỗi nhân vật chỉ có một tâm trạng. Gia Long luôn nghi kỵ công thần. Nguyễn Du lo lắng vì thân phận “hàng thần” và chán nản nhìn đâu cũng thấy quan lại tham nhũng. Lê Văn Duyệt lúc nào cũng mưu tính hại người. Nguyễn Văn Thành, Vũ Trinh, Đặng Trần Thường, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh gặp nhau chỉ than thở về thân phận kẻ sĩ… Tác giả tưởng tượng được đến đâu thì viết ra như thế, và dường như theo một định kiến có sẵn, thành ra các nhân vật không hiện rõ được góc cạnh và hành trạng riêng, hao hao nhau về suy nghĩ về kiểu nói năng. Nhân vật “kẻ sĩ” được dụng công xây dựng nhưng lại thiếu vắng kiểu nhân vật anh hùng.
Nhân vật chính Nguyễn tuy có được miêu tả trong nhiều hoàn cảnh, song chủ yếu chỉ là nhân vật tâm trạng. Nguyễn thiếu sức sống đích thực của một nhân vật có tầm vóc xã hội. Nguyễn được miêu tả là người “cao to hùng dũng, có tài văn võ”(tr.76), có cốt cách cứng cỏi thanh tao (tr.196) một tiên ông đạo cốt (tr.245), “tài trí đức độ hơn người (tr. 382)…vậy mà khi suy nghĩ về việc Gia Long triệu vào kinh, Nguyễn “giật mình, mồ hôi toát ra|, “Nguyễn lạnh xương sống”, “Nguyễn co mình lại”(tr.81). Trước mặt Gia Long Nguyễn tự nhận mình là con thỏ (tr.349) và khi Gia Long nghiêm mặt, giơ ngón tay chỉ Nguyễn, thì “Nguyễn tái mặt, mồ hôi ướt đẫm áo, vội quỳ xuống “(tr.351). Nguyễn tự nhận “Mình là thằng hèn”(tr.365), một gã vô tích sự (tr134). Khi nói truyện với Vũ Trinh, Nguyễn cũng nhắc lại suy nghĩ này :”Đệ là thằng hèn, đệ là thằng bỏ đi”(tr.400). Đây không phải là cốt cách của người hùng dũng, cứng cỏi, đức độ, tài trí hơn người.

Nguyễn suy nghĩ khôn ngoan như thế này:”Bao năm qua ta lặng lẽ không theo phái nào, không dựa vào ai, không khen ai, không chê ai, không gây sự với ai, cũng là để bảo toàn thân mình… Ta không đụng người thì người không đụng đến ta…”(tr.152). Ô hay! Nguyễn là nhà Nho, mà cốt cách nhà Nho là “Uy vũ bất năng khuất”(Mạnh Tử). Nguyễn Du lại đọc kinh Kim Cang hàng ngàn lần (8)” Lòng này thường định không rời cảnh thiền.”(Thử tâm thường định bất ly thiền. Bài thơ Đề Tam Thanh Động-Nguyễn Du), một người đã trải qua bao bể dâu, sao lại có thể sống co mình lại, vị kỷ như vậy!

Chính sự miêu tả thiếu nhất quán và áp đặt đã làm cho hình tượng Nguyễn không hiện lên được. Nói cách khác, tác giả đã không khắc tạc được hình tượng nhân vật Nguyễn Du chân thực và có sức thuyết phục. Nguyễn là nhà tư tưởng siêu thoát như lão Từ, Trang tử chăng? là nhà chính trị quân sự thiên tài như nhân vật Khổng Minh Chăng? Không, Nguyễn là Phật gia, Nho gia, là một ông quan cần mẫn, tận tụy cam chịu phận “hàng thần vào luồn ra cúi” trước mặt Gia Long. Sau khi đi sứ, Nguyễn về quê ăn khoai lang, viết truyện Kiều suốt bốn tháng, rồi ngâm thơ dưới trăng thoát tục. Một hình ảnh đẹp, nhưng không nói được cốt cách gì của Nguyễn. Nó chỉ có trong tưởng tượng của tác giả.

Trong khi lý giải những vấn đề của hiện thực, Nguyễn Thế Quang tỏ ra lúng túng và thiếu hẳn một triết lý đủ vững khả dĩ làm nền tảng tư tưởng cho ngòi bút. Người đọc thấy lởn vởn tư tưởng nhân quả luân hồi, vay trả trả vay (tr.215), quả báo (tr.303, 395), phong thủy về sự kết phát của mồ mả (tr. 369, 370). Nhờ “sức mạnh ghê gớm của huyệt mạch” và ”huyệt đạo mộ của thân phụ đắc địa quá” (tr.373) làm nên danh phận lẫm liệt của dòng họ Nguyễn Tiên Điền. Việc để Nguyễn cho khơi con mương dẫn mạch mộ tổ đổ ra sông Lam (tr.373) không cho con cháu làm quan là giải pháp hoàn toàn duy tâm, đi ngược lại niềm tin dân gian, thậm chí là “thất đức” và “vô phép” với tổ tiên (bằng chứng là khi Nguyễn xin âm dương, hồn phụ thân Xuân Quận Công không thuận. tr.376). Có lúc tác giả để Nguyễn đi ngao du. Nguyễn chơi đò, đánh đàn (tr.339), rồi lên chùa viếng Phật đàm đạo với đại sư trụ trì (tr.341), lúc về qua đò gặp lão đò đã siêu thoát (tr.343). Phải chăng Tác giả muốn nói rằng Nguyễn là người đã đạt đến cõi giác ngộ của cả Phật, Nho, Lão, nhờ thế sống an nhiên? (Nguyễn là “người thông đạt Phật lý”). Vậy mà kết truyện, tác giả lại cho Nguyễn hoàn toàn hướng về nước Phú-Lang-Sa với mơ ước “Bình đẳng! Tự do! Bác ái”. Muốn giải mã vấn đề Nguyễn Du im lặng thời làm quan với Gia Long, Nguyễn Du đau đời (thể hiện trong nhiều bài thơ), và Nguyễn thanh cao, tác giả càng loay hoay, lại càng tự mâu thuẫn và bất lực. Có chăng, qua tiểu thuyết Nguyễn Du, tác giả góp một cách hiểu về con người Nguyễn Du, và đó là cách hiểu của tiểu thuyết, không phải cách hiểu của khoa học lịch sử.

4.Đọc tiểu thuyết lịch sử

Đọc tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết lịch sử nói riêng, bạn đọc cứ thả hồn vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, để cảm nhận cái hay của văn chương, hiểu biết thêm đời sống, để làm phong phú thêm tư tưởng và mở tâm hồn ra với đời, với người. Đọc là cảm nhận, là đối thoại, là chia sẻ. Tiểu thuyết là thế giới tưởng tượng, sáng tạo. Nhà văn kể chuyện, bịa truyện là để “mua vui”, và cũng để ký thác những suy nghĩ, khát vọng của mình. Nếu người đọc tìm thấy điều gì đó tâm đắc với mình, tôi nghĩ, như vậy đã đủ cái công sức và thời gian bỏ ra để đọc một tác phẩm hàng trăm trang.

Nguyễn Thế Quang đã ký thác khá nhiều điều trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Du. Câu chuyện tác giả kể về Nguyễn là hư cấu, nhưng công sức thu thập tài liệu, tâm huyết và tài năng của nhà văn, phẩm chất của một nhà giáo là rất thực. Điều này làm nên giá trị tác phẩm và bảo đảm cho những gì nhà văn chia sẻ với bạn đọc. Cũng xin lưu ý bạn đọc ý kiến này của tác giả :”Điều quan trọng hơn là tác giả muốn sáng tạo một Nguyễn Du với khát vọng viết tiếp một “Đoạn trường tân thanh” nữa về bi kịch của người trí thức trước cường quyền thời đó mà không thể viết được”.

Tháng 4. 2015

_____________________________________________


Ghi chú:

(1) http://www.baothuathienhue.vn/?gd=6&cn=275&newsid=28-76-874
(2) Xin tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu : Trương Chính, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Quảng Tuân, GS Nguyễn Tài Cẩn, PGS Ngô Đức Thọ, PGS Đào Thái Tôn, PGS Lê Thanh lân, TS Phạm Trọng Chánh…
(3) Thử hồi nhược đắc sơn trung đế/ Tả ngã kinh luân chuyển hóa cơ.
(Nghĩa là: Thời nay, nếu mà có được vị chúa trong núi kia ở bên cạnh để ta lo sắp đặt thì có thể xoay chuyển được cơ trời).
(4) Xin xem các trang: 195, 207, 211, 215, 216, 244, 264, 359, …
(5) Xin đọc trang: 205, 200, 210, 217, …
(6) Mộng Liên Đường Chủ Nhân viết bài tựa truyện Kiều năm 1820 :” “Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy”.
Nguyễn Hành nói:”Càng nghĩ đến “Đoạn trường tân thanh” em càng thấy lạ, văn đã tuyệt diệu mà ý cũng khôn cùng. Chú mình là bậc kỳ tài. Không có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả ngàn đời, thì không thể có cái bút lực như máu chảy ở đầu ngọn bút, như kiếm thần vung lên giữa bão giông như vậy…”(tr.259)
(7) Xin đọc các trang: 37, 47, 51, 53, 65, 89, 113, 135, 155, 156, 160, 168, 173, 181, 189, 264, 267, 288, 292, 293, 301, 327, 328, 335, 337, 381…
(8) Xin đọc bài thơ : Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài’
(9) Trả lời phỏng vấn Nguyễn Khắc Phê : http://www.baothuathienhue.vn/?gd=6&cn=275&newsid=28-76-874


Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

SƯƠNG MÙ THÁNG GIÊNG

Trang nảy BCT không dàn trang bài viết được MỜI BẠN ĐỌC BÀI BCT VIẾT VỀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ SƯƠNG MÙ THÁNG GIÊNG CỦA UÔNG TRIỀU tại trang : https://buicongthuan.wordpress.com/2015/03/23/suong-mu-thang-gieng-cua-uong-trieu/
BẠN CÓ THỂ ĐỌC BÀI VIẾT NÀY TRÊN TRANG WEB CỦA HỘI NHÀ VĂN ĐĂNG NGÀY 24.03.2015: http://vanvn.net/news/11/5555-tinh-yeu-trong-suong-mu.html

THƠ NGUYỄN HOA

MỜI BẠN ĐỌC BÀI BCT VIẾT VỀ THƠ NGUYỄN HOA : https://buicongthuan.wordpress.com/2015/03/17/tho-nguyen-hoa/