Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014

LỜI CÁM ƠN VỚI HÀ NỘI-Bùi Quang Tú


LỜI CÁM ƠN HÀ NỘI

Tạp văn của Bùi Quang Tú, Nxb Đồng Nai 2014

Bùi Công Thuấn

 

Nhà văn Bùi Quang Tú (ảnh BCT chụp tháng 8.2014)
 

 

Tạp văn là thể văn ở giữa thể Ký và Tuỳ Bút. Nó cho phép người viết ghi lại những mảnh hiện thực cùng với những cảm nhận của mình. Nếu Ký tập trung phản ánh người thật việc thật và soi rọi vào đó  cái nhìn mang ánh sáng cá nhân thì ở Tùy bút, “cái tôi” tác giả được phóng đại và khúc xạ qua lăng kính con người và sự việc. “Cái Tôi” trong Tùy Bút là cái tôi thẩm mỹ làm nên giá trị của trang văn. Tạp văn không có được “cái tôi” thẩm mỹ, nhưng có thể ghi được những lát cắt hiện thực qua cái nhìn của nhân vật Tôi là người trong cuộc, như một chứng nhân, một trải nghiệm cụ thể, vừa đủ thuyết phục người đọc về những gì khả tín.

 

1. “Một thời để nhớ”

 

Lời Cám Ơn Hà Nội  là bài ca về “một thời để nhớ”, vì hầu hết các bài viết khởi đi từ thời điểm hiện tại, tác giả nhớ lại ngày xưa. “Bây giờ đây đang sống ở mảnh đất phương Nam, hồi nhớ lại”(tr.19)hồi niên thiếu tôi sống ở Hà Nội…”(tr.36),Tôi đã đón bao nhiêu cái tết nhưng vẫn nhớ mãi cái tết Hà Nội năm ấy “(tr.49),Tôi nhớ cách đây hơn ba mươi năm tôi đã đi trên một con tàu từ ga Hàng Cỏ”(tr.83),Chao ôi, tôi lại nhớ tới chuyến đi phép năm 1983. Năm ấy tôi làm hiệu trưởng trường cấp 3 Nam Hà”(tr.104)…

 

Ở góc nhìn khác, Lời Cám Ơn Hà Nội là tập hồi ký của người cầm bút. Bạn đọc có thể lần theo từng bước chân của tác giả. “Tôi là một thằng bé nhà quê, thuở bé sống ở quê mẹ, Đức Thọ, Hà Tĩnh”(tr.131). Năm 1955 tác giả theo cha ra Hà Nội, ở nhà G2 khu tập thể Trung Tự, phố Bà Triệu, và sống ở đó 18 năm (tr.7), “Tôi có một tuổi thơ trải dài trên vỉa hè Hà Nội”(tr.136), học trường cấp 1 Lương Khánh Thiện, cấp 2 Tây sơn 1960, cấp 3 Đoàn kết 1960. Năm 1965 sơ tán về Vạn Phúc, Thanh Trì Hà Nội (tr.20). Tác giả kể :” Tốt nghiệp Phổ Thông, tôi vào trường Đại Học Sư Phạm. Ra trường sau mấy năm dạy học tôi chuẩn bị vào chiến trường miền Nam.(tr.19). Năm 1972, tôi ngoài 20 tuổi, lòng hăm hở như bao chàng trai cô gái khác. Đang là bí thư đoàn trường ở một trường cấp III, tôi viết đơn tình nguyện vào chiến trường miền Nam”(tr.84, tr.128).Năm 1973 chúng tôi lên đường” (tr.85).Năm 1974 từ R về được phân về Ban Tuyên Huấn Biên Hòa” (tr.96).Tôi ở cơ quan được vài tháng thì nhận được quyết định đi biệt phái làm giáo viên trường Văn hóa huyện Thống Nhất “(tr.98), sau đó được kết nạp Đảng. Rồi dạy ở trường Cao Đẳng Sư Phạm Đồng Nai (tr.114), nhiều lần ra Hà Nội. Năm 1983 (tr.104), về phép 1985 (tr.110). 1998 ăn tết ở Hà Nội (tr.156) Ngày 09.02. 2009 thăm Ngày thơ Việt Nam ở Văn Miếu (tr. 124, 151).

 

Nếu Lời Cám Ơn Hà Nội chỉ là tiểu sử biên niên của tác giả, thì sẽ chẳng có gí đáng đọc, bởi nhìn vào tiểu sử ấy, mà so sánh với nhật ký Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc, Dương Thị Xuân Quý (tr.79), người đọc chẳng tìm thấy những “kỳ tích anh hùng” trong kháng chiến chống Mỹ của một thời Hà Nội hào hùng, hay tìm thấy những giá trị thiêng liêng của một Thăng Long hàng ngàn năm văn hiến. Nhân vật Tôi trong Lời Cám Ơn Hà Nội chỉ là một đứa trẻ bình thường của hè phố Hà Nội, là một học sinh chăm ngoan của những mái trường thủ đô và một người thanh niên Hà thành lên đường vào Nam chiến đấu như bao thanh niên khác (không có bài nào viết về một trận tham gia trực tiếp đánh Mỹ). Sau chiến tranh, nhân vật Tôi cũng là một thầy giáo của đời thường.

 

Dù vậy, Lời Cám Ơn Hà Nội là lời của người trong cuộc, là chứng nhân của “một thời để nhớ”, là trải nghiệm trực tiếp trong những tháng ngày lịch sử vẻ vang của dân tộc, thế nên Lời Cám Ơn Hà Nội có giá trị của nó. Nhân vật Tôi bình thường như bao người Hà Nội bình thường khác, nhưng chính những con người bình thường ấy lại làm nên một lịch sử vĩ đại, hào hùng. Và cũng chính những con người bình thường ấy lại là người gìn giữ vẻ đẹp và những giá trị văn hóa của nghìn năm Thăng Long Hà Nội. Vâng, xin cứ đọc nhân vật Tôi như một trường hợp cụ thể người con Hà Nội :”Chúng tôi lên tàu, 10 giờ đoàn tàu chuyển bánh rời ga Hàng Cỏ tiến về phương Nam. Tàu chạy qua công viên Lênin, tôi nhoài người qua cửa sổ nhìn về khu tập thể Kim Liên nơi gia đình tôi đang ở. Chắc giờ này ba đang cặm cụi trên bàn viết, mẹ đang chuẩn bị nấu cơm và em gáu đang học bài…Trên tàu là những người mặc quân phục xanh, mũ tai bèo, dép cao su, mang theo ba lô nặng trĩu. Nhấp nhô về tuổi tác, có những thanh niên hai mươi tuổi trẻ măng, lại có những ông già gần 60 ở các ngành Y tế, Lâm nghiệp. Nhưng tất cả đều một tám long bốc lửa vớ miền nam,  đều muốn có mặt ở chiến trường trong giờ phút bước ngắt của lịch sử”(tr.85). Nhân vật Tôi, giống như những người con Hà Nội khác, âm thầm góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp vĩ đại của dân tộc. Nói như Nguyễn Khải, là góp một “hạt bụi vàng” làm cho Hà Nội thêm lấp lánh. TS Huỳnh Văn Tới cũng khẳng định Lời Cám Ơn Hà Nội có thể xem như là tiếng lòng của người con Biên Hòa-Đồng Nai đối với Thăng Long-Hà Nội (tr.6)

 

2.Hà Nội, rất nhiều sắc màu

 

Một nét ký họa rất xinh :”Mỗi buổi sáng men theo con đường đất đỏ dẫn đến lớp học. Lớp 10 năm ấy nằm ẩn dưới những khóm chuối, bên những bụi dong riềng đỏ rực và những hầm hào chi chít. Ngoài kia là bãi cát trắng phau, mịn màng và dòng sông êm trôi. Những thuyền bè lả lướt trong nắng mai. Ở đây khá yên tĩnh, về đêm ngước nhìn bầu trời Hà Nội nghe thấy tiếng máy bay ầm ì và những viên đạn pháo cao xạ đỏ lừ tung lên trời, nổ lục bục”(tr.20)

 

Đây là một căn hộ :”Gia đình tôi đến thuê sau cùng nên đành ở nơi chái bếp, khi dọn đến mồ hóng vẫn bám đầy trên mái. Cái chái bếp ấy rộng mỗi chiều 4 mét, có hai cửa sổ. Nhà tôi chỉ kê được có một giường lớn, hai giường nhỏ, một cái bàn và một cái tủ. Nhà có 7 người, bà nội, ba mẹ tôi và 4 anh em…”, “…Ở cái khu nhà với 4 gia đình và mấy chục con người chỉ có một nhà tắm và một nhà vệ sinh, thế là xảy ra cảnh sáng chờ đi vệ sinh, chiều chờ tắm..Vui nhất là buổi trưa và chiều chỉ có một cái bếp chung nên cả 4 nhà đều nổi lửa. Mỗi nhà một cái thùng phuy đựng mạt cưa, nhồi mạt cưa vào bếp lò, dùng mấy mẫu gỗ thông nhồi mồi cho lửa bén. Nhà thì nướng dọc, nhà thì gọt sấu, tuốt rau rút, giã cua thì thụp…bữa ăn thì đạm, bạc, cơm độn ngô, rau muống luộc dầm sấu, vài con cá trích, trứng vịt luộc dầm nước mắm…”(tr.24-25)

 

Và đây là một nét sinh hoạt:”Xe đạp hồi ấy lai người và thồ hàng. Ở Ngã Tư Vọng tôi đã thấy một chiếc xe đạp đã phát huy hiệu quả tối đa của nó.Trên ghi đông treo 4 túi vừa vải vừa nhựa. Trong túi là hoa quả, thực phẩm, như mỡ, mắm, mì chính…Ở khung xe áp chặt một chiếc ba lô chắc là đựng quần áo. Phía sau mới thật vĩ đại. Ngồi chễm chệ là một phụ nữ bế con. Một bên là bao tải căng phồng với nồi niêu xoong chảo. Bên kia là thùng dầu hỏa. Ngồi cầm lái là một người đàn ông ngoài 40 tuổi rướn người chở vợ con, đồ đạc về nơi sơ tán. Người Hà Nội những năm ấy lúc nào cũng vội vàng, vì bận việc cơ quan, vì chiến tranh vô cùng ác liệt…”(tr.76)

 

Hà nội trong bom đạn Mỹ :Từ cuối tháng 12 và cao điểm nhất là đêm 26.12.1972, Mỹ cho hàng đàn B52 đánh vào ga Hàng Cỏ, bệnh viện Bạch Mai,  Bộ Giao thông và một số khu tập thể đặc biệt là khu phố đông Khâm Thiên. Nhiều cán bộ, dân thường, bác sĩ, y tá, thực tập sinh bị giết chết (tr.63)…Sáng 27.2, tôi đạp xe về nhà ở C4 khu tập thể Kim Liên để kiểm tra xem nhà cửa, đồ đạc có hề hấn gì không. Vừa tới chân cầu thang đã gặp ông già Tự Do người gầy, đội cái mũ lông to tướng màu nâu. Vợ con đi sơ tán, ông thường xuyên bám trụ. Thấy tôi, ông mỉm cười giơ lên một xâu cóc:’Mình mới ra ruộng bắt được mấy con cóc này, trưa nay có cái nhắm rượu rồi’…Trưa 28.12 tôi lại dự một đám cưới ở Hà Nội. Cô dâu là giáo viên -bạn tôi, mặc ái dài. Chú rể bộ đội mặc quân pục. Đưa dâu bằng xe đạp. Tiệc cưới chỉ có bánh, kẹo,chè và bó hoa lay ơn trắng. Ba phần tư câu chuyện trong đám cưới là chuyện bom đạn. Có người còn nêu sáng kiến đưa mấy thằng giặc lái ra giữa phố cho máy bay Mỹ ném bom(tr.68)

 

Những đoạn tôi vừa trích hiện lên như những thước phim chân thực, sắc nét, có sức gợi bao nhiêu ký ức của những người đã sống ở Hà Nội. Ngày nay đọc những đoạn ghi chép này, bạn trẻ có thể không hình dung nổi những tháng ngày đã trở thành huyền thoại ấy của Hà Nội. Bùi Quang Tú đã ghi được những nét rất mộc, nhưng rất sáng những cảnh vật những con người Hà Nội bình dị, sáng trong và vô cùng quả cảm. Tôi hiểu rằng anh có ý thức ghi chép lại những sự việc và con người đời thường ấy của Hà Nội để gìn giữ lấy cái bản sắc, cái bản lĩnh Hà Nội trong từng chi tiết. Mai sau con cháu còn biết đến một cách cụ thể cha ông đã sống như thế nào.

 

Nhưng Bùi Quang Tú có bài nghiên cứu về cốt cách văn hóa Hà Nội. Bài Lời Cám Ơn Hà Nội, Gặp Gỡ và Cảm Nhận, Họ Đã Trở Về Trái tim Hà Nội, Hà Nội Tình ca, Nguyễn Đình Thi với Hà Nội…ghi chép và tổng hợp được những giá trị văn hóa đặc sắc của Hà Nội. Bùi Quang Tú đã nhận xét về Nguyễn Đình Thi, và có lẽ cũng đúng với nhiều văn nghệ sĩ khác :” Hà Nội đã sản sinh ra nhiều nghệ sĩ tài hoa, trong đó có Nguyễn Đình Thi-một nghệ sĩ đa tài. Và chính ông đã dâng tặng Hà Nội những vần thơ, bản nhạc ghi dấu ấn không phai trong lòng người yêu Hà Nội”(tr. 149).

 

Bạn đọc được gặp rất nhiều nhà văn, nghệ sĩ trong cuộc sống đời thường mà Bùi Quang Tú đã ghi chép được. Trang văn của anh có nhiều giá trị tư liệu: Ở Hội Nhà Văn, Bùi Quang Tú thường gặp Nguyễn Đình Thi (tr.28), anh cũng đã sống cùng với nhà văn Nguyên Hồng ở nhà xuất bản Văn Học (tr.29). Ngôi nhà 96 phố Huế, khu tập thể văn nghệ sĩ có Nguyễn Đình, Bùi Huy Phồn, Lưu Quang Thuận, nhạc sũ Văn Ký, Nguyễn Văn Tý, Phan Huỳnh Điểu, Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ (tr.30). Lời cám Ơn với Hà Nội ghi chép về các nhà văn miền Nam tập kết ra Bắc 1954, học tập và trưởng thành lên từ Hà Nội. Đó là: Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Đoàn Giỏi, Nguyên Ngọc, Thu Bồn, Hoàng Văn Bổn, Hoài Vũ, Phạm Hổ, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, Diệp Minh Tuyền. Họa sĩ Nguyễn Sáng. Các nhạc sĩ từng sống và làm việc ở Hà Nội khá đông đảo : Lưu Hữu Phước, Hoàng Việt, Hoàng Hiệp, Trần Kiết Tường, Phan Nhân, Huỳnh Thơ, Thuận yến, Trương Quang Lục…(tr 55)… Bùi Quang Tú nhận định :”Từ cái nôi văn hóa Hà Nội họ trở vào chiến trường miền Nam và đã có những đóng góp cho văn học miền Nam như chúng ta đã biết “(tr 53)

 

Viết về Hà Nội, Bùi Quang Tú đã khai thác được nhiều đề tài, khám phá Hà Nội từ nhiều góc độ và làm hiện lên một Hà Nội với vẻ đẹp văn hóa trong thời đại Hồ Chí Minh. Có thể đó chỉ là một nét rất nhỏ là tiếng rao Phá xa hay Xề cố (Em ơi, Bà Triệu phố), một ấn tượng rất riêng về món ăn ốc luộc, uống nước chè chén (Lang thang vỉa hè Hà Nội), món “ruộm hấp”(Lần đầu ra Hà Nội). Những ngày tháng trẻ con rong chơi, những ngày tháng học trò đầy ắp kỷ niệm, những ngày bao cấp thiếu thốn đủ điều, những ngày rầm rập đoàn quân lên đường vài Nam, ngày bác Hồ ra đi, những ngày Mỹ dội B52 xuống Hà Nội, những người con dũng cảm, tài hoa của Hà Nội. Hà Nội tình ca, Hà nội mùa thu và mùa đông, Hà Nội Ngày thơ Việt Nam, người con Đồng Nai-Hà Nội…Tôi hiểu phải sống với Hà Nội và có tình cảm sâu sắc với Hà Nội mới giúp Bùi Quang Tú viết được những trang văn phong phú sắc màu và nghĩa tình với Hà Nội. Anh cũng nhận ra :” Đã từ lâu Hà Nội và Đồng Nai đã hình thành một sợi dây đàn tình cảm. Người Hà Nội vào Đồng Nai sống và làm việc cũng nhiều. Người Đồng Nai ra Hà Nội học tập, công tác cũng không ít. Cho nên cái sợi dây tình cảm Hà Nội-Đồng Nai mỗi khi có dịp lại ngân rung lên những âm thanh rất đỗi thiết tha, dịu dàng và sâu lắng…”(tr. 160)

 

3.Tạp văn Bùi Quang Tú

 


Nếu “văn là người” thì bạn đọc có thể nhận ra một nhà văn Bùi Quang Tú có những đặc điểm rất riêng, không phải bằng văn phong mà bằng những gì anh thể hiện. Ngòi bút Bùi Quang Tú nhất quán ở việc ghi nhận, phản ánh những gì là đẹp, là nghĩa tình, là nhân văn. Anh không miêu tả cái dữ dội khốc liệt đẫm máu, hay khai thác bi kịch, cũng không khơi gợi lòng căm thù, trang văn của anh  không hề có một lời ta thán hay một sự phê phán những cái tiêu cực, dù anh biết rõ ”vẫn còn đó những vấn đề của Hà Nội trong hôm nay và cả ngày mai”(tr.7). Có lẽ anh là nhà giáo nên văn của anh mực thước, ít khi thấy anh phóng bút để lộ diện sự tài hoa. Tôi thích câu chuyện anh kể về bà cụ 70 tuổi nơi anh sơ tán (Nhớ bà cụ ven sông Hồng), một bà mẹ Việt Nam khó nghèo, bình dị nhưng sâu sắc nghĩa tình đến vậy. Bài viết về họa sĩ Nguyễn Nam Ngữ đầy nghĩa tình (Người Hà Nội giữa rừng Đồng Nai). Tôi cũng rất thích cái bầu khí đầy nghệ thuật của Hà Nội trong những bài: Lãng du cùng nghệ thuật, Đi suốt bài ca, Hà Nội tình ca, Nhờ những mùa thu mùa đông Hà Nội, Tản mạn quanh hồ Gươm. Những bài viết của anh đã hội tụ bao nhiêu nhân tài của Hà Nội, mà ngày hôm nay, có ao ước, cũng khó mà có được.

 

Anh có những trang văn miêu tả thật trong sáng và đẹp. Rất tiếc những đoạn văn ấy không nhiều trong tập sách này. Xin đọc đoạn văn anh viết về sông Đồng Nai: ”Hồi đó tôi có dịp đi dọc đoạn sông tới đoạn làm thủy điện Trị An hiện nay. Những tảng đá hàn nhô lưng giữ lòng sông, chỗ đen bóng, chỗ bạc phếch, vừa trơn tru, vừa nứt nẻ. Nước sông chảy tới đó sôi réo, tung bọt trắng xóa, trận hỗn chiến giữa nước và đá không bao giờ ngơi nghỉ. Những bụi cây rù rì màu đen xám mọc trên tảng đá ngã rạp xuống trong nước tung tóe và gió lồng lộng. Sông Đồng Nai vào mùa nước trong đi trên xuồng có thể nhìn thấy tận đáy cát trắng tinh, bầy cá nhởn nhơ trong làn nước…”

 

Cách kết bài viết của Bùi Quang Tú cũng tạo ra nhiều cảm xúc thẩm mỹ, đó là ghi lại những dư âm trong lòng khi trái tim nhà văn rung cùng một nhịp với nhân vật. Sau khi viết về Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm, Dương Thị Xuân Quý (Họ đã trở về trái tim Hà Nội), Bùi Quang Tú viết đoạn kết: ”Viết đến đây, trước mắt tôi như đang hiển hiện hình ảnh Nguyễn văn Thạc cùng người yêu Phạm Như Anh đạp xe chầm chậm trên đường Cổ Ngư, họ lặng nhìn nhau lòng dạt dào cảm xúc. Nhà văn Dương Thị Xuân Quý thì đang đưa con đi dạo chơi ở công viên Lênin, chỉ cho bé Ly thấy những bông hoa mang nhiều vẻ đẹp khác nhau. Bác sĩ Đặng Thùy Trâm đang cùng ba mẹ và em gái ngồi ăn bún chả (món ăn mà chị ưa thích), ríu rít chuyện trò trong căn hộ tập thể. Và bạn có tin không, trong dòng người đón Đại lễ ngàn năm Thăng Long có họ đấy…”(tr. 82). Bùi Quang Tú đã thương yêu nhân vật, sống với nhân vật, thấu hiểu nhân vật như thế nào mới có thể hình dung được vẻ đẹp của những con người Hà Nội như thế.

 

4. Lời Cám Ơn Hà Nội - tiếng lòng của người con Biên Hòa-Đồng Nai..

 

Nếu Bùi Quang Tú viết với cảm thức hoàn toàn là người Hà Nội viết về Hà Nội thì chưa hẳn Lời Cám Ơn Hà Nội  có thể hấp dẫn với người Đồng Nai. Cái khó mà anh vượt qua được là ở chỗ, người Đồng Nai soi mình thấy hồ Gươm Hà Nội, và người Hà Nội chan hòa trong dòng dông Đồng Nai. Nhà văn Hoàng Văn Bổn đã sống làm việc ở Hà Nội, trở thành nhà văn lớn của Đồng Nai và của cả nước. Họa sĩ Nguyễn Nam Ngữ là người con Hà Nội hiện là người của đất Đồng Nai, và tác giả Bùi Quang Tú đã là người của Đồng Nai từ những năm 1974 khi anh từ Bắc vào Nam và  từ R về được phân về Ban Tuyên Huấn Biên Hòa, tính đến nay anh đã sống, chiến đấu và công tác ở Đồng Nai 40 mươi năm (trong khi anh chỉ ở Hà Nội 18 năm).

 

Lời Cám Ơn Hà Nội  là lời của ngày hôm nay cám ơn các thế hệ đi trước đã sống đẹp, sống quả cảm để gìn giữ và đắp bồi một bản lĩnh Việt nam, làm phong phú và ngời sáng hơn nữa những giá trị văn hóa Việt nam. Ở khía cạnh này, Lời Cám Ơn Hà Nội  cũng là lời nhắc nhở về lẽ sống nghĩa tình về những xâm lăng văn hóa đang làm mất đi bao nhiêu giá trị cao đẹp của văn hóa Việt Nam những năm tháng khó khăn và hào hùng. Tôi nghĩ  trong Lời Cám Ơn Hà Nội, nhà văn Bùi Quang Tú cũng gửi những lời tâm huyết tới các thế hệ mai sau. Đó là điều thật đáng trân trọng.

 

Tháng 9. 2014

Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

CA KHÚC BÙI CÔNG THUẤN

HÁT VỀ ĐỒNG NAI& NGƯỜI ĐỒNG NAI
2 trong 4 ca khúc dự trại sang tác Phú Yên 8. 2014 của Bùi Công Thuấn




MỘT THỜI RỪNG SÁC-Lê Bá Ước



TÁC GIẢ VÀ NHÂN VẬT VĂN CHƯƠNG

TRONG MỘT THỜI RỪNG SÁC

  Lê Bá Ước, Nxb tổng hợp Đồng Nai 2003

Bùi Công Thuấn

 

Đại tá Lê Bá Ước, tác giả Một Thời Rừng Sác
 

 

1.Một Thời Rừng Sác ghi lại những kỳ tích anh hùng của đoàn 10 Đặc công rừng Sác. Địa bàn hoạt động của Đoàn 10 rải quân trên dưới 50km từ Vũng Tàu lên hai bờ sông Lòng Tàu đến Nhà Bè sang đường 15 lên Thành Tuy Hạ và hai đơn vị trụ ở phía đông đường 15. Trong tập sách, tác giả nói nhiều đến những hoạt động trên sông Thị Vải.

 
Theo nhiều nguồn tư liệu ghi lại, Trong 10 năm, Đoàn 10 đã lập những chiến công lừng lẫy:

 Chiến đấu 595 trận, diệt 6200 quân địch (trong đó diệt gọn 2 đại đội Mỹ,
 Đánh chìm và cháy 365 tàu, thuyền chiến đấu.
            Đánh đắm 133 tàu vận tải từ 800 đến 13 ngàn tấn và cháy 145 tàu vận tải khác.
            Bắn rơi 29 máy bay trực thăng.
            Đột nhập kho bom Thành Tuy Hạ hai lần, phá hủy trên 110 ngàn tấn bom đạn;

 Phá hủy 200 triệu lít xăng và khí đốt butaga tại tổng kho xăng dầu Nhà Bè.
            Pháo kích 70 trận làm cháy hàng triệu lít xăng dầu.
            Phá hủy 1 trận địa pháo 2 khẩu 105 ly; 10 đồn bót cấp đại đội và nhiều tua chốt dã ngoại, đánh sập và hỏng 4 cầu, 3 khu chỉ huy cơ sở của quân ngụy.

 
Đoàn trưởng kiêm chính ủy Lê Bá Ước trực tiếp chỉ đạo nhiều trận đánh vang dội :

            Dội pháo vào Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ tháng 8. 1968
Đánh kho bom Thành Tuy Hạ đêm 12-11-1972
Trận đánh kho xăng Nhà Bè đêm 3.12.73  

Đại tá Lê Bá Ước sinh năm 1931, quê ở Gò Quào, Rạch Giá (nay là tỉnh Kiên Giang), nhập ngũ năm 1945, tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau hiệp định Genève, ông tập kết ra miền Bắc. 1965 ông trở về miền Nam chiến đấu với cương vị chính ủy và trung đoàn trưởng Trung đoàn 10 đặc công rừng Sác. Trong Câu chuyện một gia đình (tr.185) ông kể khá kỹ về gia đình mình, đó là một gia đình nhiều thế hệ chiến đấu và hy sinh cho Cách mạng. Có hai bà mẹ Việt Nam anh hùng, 8 người thân hy sinh, tất cả dâu, rể, trai, gái đều trưởng thành: có hai sĩ quan dự bị, hai sĩ quan công an, hai bác sĩ, một thiếu tá, 10 người đã qua trình độ Tú Tài, Cử nhân., có thêm 8 cháu nội ngoại.(tr.196). Ông tự đánh giá :”…rõ ràng trong sự hy sinh mất mát phải chấp nhận đó vẫn thấy phần được lại cũng khá nhiều…họ sống với niềm tự hào to lớn của dòng tộc…, động viên dìu dắt nhau để phấn đấu xứng đáng với người đã khuất”.

 
Có một điều ngạc nhiên là không thể tìm thấy tên nhân vật Lê Bá Ước trong Một Thời Rừng Sác. Chỉ có nhân vật Lê Bảy, khi là “anh ngư dân Lê Bảy”(tr.38),đoàn trưởng kiêm chính ủy”, (tr.55),Chỉ huy trưởng Lê Bảy”(tr.129), nhiều khi chỉ gọi trống không là “ Lê Bảy”, không chức vụ. Chẳng hạn :”Đại đội trưởng Trần Sung nói :…, Chính trị viên Lê Chính :nói…. Lê Bảy điềm tĩnh dằn mạnh từng lời… Lê Bảy vui vẻ mỉm cười sau một quyết định”(Tr.74)”2 giờ sáng Lê Bảy cùng vài đồng chí thao thức trên võng ni lông”(tr.78), hoặc “ anh Bảy rừng sác “(Tr.103)
 

Đối chiếu với tiểu sử chiến đấu của các trận đánh thành Tuy Hạ, kho xăng Nhà Bè, bạn đọc nhận ra Lê Bảy chính là Lê Bá Ước. Điều này có ý nghĩa gì? Tại sao tác giả không ghi trực tiếp tên mình vào câu truyện, nhưng lại tách mình ra, với tư cách người cầm bút, viết về Lê Bá Ước qua nhân vật Lê Bảy?
 

2.Theo tôi xây dựng nhân vật Lê Bảy thay cho tác giả Lê Bá Ước là một thành công của nhà văn Lê Bá Ước. Nhất là khi theo dõi câu chuyện riêng tư của gia đình Lê Bảy, bạn đọc thấy rõ Lê Bá Ước đứng bên ngoài gia đình mình, ghi chép, nhận định về từng người và cả giòng tộc, gọi chung là “họ”, như thể một người khác viết về gia đình Lê Bá Ước (Câu chuyện một gia đình)

 
Thường thì khi viết về chính mình, khi kể lại công trạng thành tích, khi thổ lộ suy nghĩ cảm xúc, người cầm bút rất dễ bị “cái Tôi” nâng cánh bay bổng, làm cho hiện thực được phản ánh không tránh khỏi chủ quan. Ngòi bút Lê Bá Ước đã không vấp phải hạn chế đó.

 
Lê Bá Ước có ý thức “ém” mình đi để viết về đồng chí, đồng đội, cố ghi cho được chân dung và sự tích những con người anh hùng. Bởi sự thành công của một trận đánh, một chiến dịch và của Cách mạng là của cả một tập thể anh hùng. Chính tập thể ấy mới đáng biểu dương và ghi công. Tác giả Lê Bá Ước nhận rõ điều đó, ông tô đậm vai trò của quần chúng, sức mạnh của nhân dân, sự mưu trí, dũng cảm phi thường của từng con người trong từng hoàn cảnh ngặt nghèo, khi đối mặt với kẻ thù :” Có thể nói hàng trăm hàng ngàn tấm gương của con người, của tấm lòng yêu thương anh bộ đội cụ Hồ thể hiện tình quân dân cá nước sắt son cần phải ghi lại thành sử sách của thời kỳ chiến tranh chống xâm lược nơi vùng ven bám trụ.”(tr.184). Nhờ thế, Lê Bá Ước viết rất hay về đồng đội, đồng chí, về những người dân gắn bó sống chết với Cách mạng.(Mà Hai Trầu, Chân dung nữ liệt sĩ, Lòng dân Phước Thái, Hội anh chiến sĩ…)

 
Một đặc sắc nữa của ngòi bút Lê bá Ước qua nhân vật Lê Bảy, ông vừa có được cái nhìn tổng quát được cả chiến trường, lại rất kiên định trong lý tưởng những khi thử thách, khó khăn; đồng thời lại thể hiện được tình cảm sâu nặng với đồng đội, nhất là với người đã hy sinh. Chính con người tình cảm này của Lê Bá Ước làm nên những trang văn nhân hậu, thấm thía. Truyện Tìm Giọt Máu Rơi, Tình Đồng Đội là những câu chuyện cảm đồng cả về sự tích anh hùng và cả về những tình nghĩa thủy chung trước sau của những người cùng nhau sống chết trong cuộc đấu tranh giành lấy độc lập tự do từ tay kẻ thù..

 
3. Sự kết hợp bút pháp Ký và tự truyện tạo nên màu sắc riêng của ngòi bút Lê Bá Ước. Một Thời Rừng Sác có giọng văn trẻ, điềm tĩnh, nhân hậu nhưng cũng đầy chất anh hùng ca của sử thi. Thật ngạc nhiên khi tác giả của những bút ký ấy là người đã có tuổi, sức lực đã cạn kiệt vì hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho chiến trận.

Khi in Một Thời Rừng Sác, Lê bá Ước đã trên 70 tuổi. Tôi nghĩ, chính tấm lòng người lính với đồng đội, với đồng bào và Cách mạng đã chắp cánh cho những trang văn Lê Bá Ước. Ghi lại chân thực những chi tiết, những người, những việc, cùng với những tình cảm sôi nổi của một thời quá vãng, truyền ngọn lửa Cách mạng cho người đọc, không phải người cầm bút nào cũng làm được. Những người đã sống trọn vẹn đời sống chiến đấu cho lý tưởng cầm bút như Lê Bá Ước đến nay là rất hiếm, và chắc chắn những người trẻ hôm nay không thể viết được những trang văn hào sảng không khí chiến trận như tác giả Một Thời Rừng Sác.

Ở những bài viết mà chất Ký  là chính, tuy có ghi được tầm vóc sử thi và không khí chiến trận nhưng người đọc vẫn thấy thiếu một điều gì đó đọng lại thấm thía lòng mình; trái lại, những bài mà chất truyện vượt lên, văn Lê Bá Ước đọc rất thú vị. Đó là những cảnh sông nước, những tâm tư của nhân vật, những trăn trở, đấu tranh quyết liệt trong đầu người chỉ huy trước nhiệm vụ và trước sự sống chết của đồng đội, lòng tin của đồng bào. Ngòi bút trở nên “chân thật” hơn những trang “anh hùng ca” chỉ tập trung vào sự việc. Đúng ra Lê Bá Ước nên khai thác sâu hơn nữa việc miêu tả số phận từng con người, thay vì chỉ miêu ta kỳ tích của họ. Điều gì cho học sức mạnh làm nên kỳ tích anh hùng?
 

Sự kết hợp Ký và truyện làm cho ngòi bút Lê Bá Ước trở nên có duyên. Dù viết về những câu chuyện đời thường (Tình đồng đội, Một đám giỗ, Hội anh chiến sĩ, Lòng dân Phước Thái), văn Lê Bá Ước vẫn hấp dẫn. Sự hấp dẫn không phải bởi ngôn từ mà bởi cách kể nhanh, gọn, biết chắt lọc những con người, những sự việc có sức gây ấn tượng, tạo ra những “đột biến” cho mạch kể. Kết thúc truyện có hậu đem đến nhiều khoái cảm thẩm mỹ cho bạn đọc. Tất cả đều bật lên sự mưu trí dũng cảm và lòng nhân hậu, sức mạnh nhân dân làm nên chiến thắng.
 

Tôi chia sẻ tâm nguyện này của nhà văn Lê Bá Ước :”Qua tập hồi ký Một Thời Rừng Sác, dù không là người cầm bút chuyên nghiệp, tôi chỉ xin được ghi lại đôi điều, một số kỷ niệm, sự việc, chiến công của đồng chí, đồng bào. Sức mình có hạn, chắc chắn không thể nào phản ánh được đầy đủ những chiến công, kỷ niệm sâu sắc của đồng bào đồng chí Rừng Sác, những mong anh chị em bè bạn bổ sung cho Bản Anh Hùng Ca Rừng Sác thêm hoàn chỉnh, để cho các thế hệ mai sau lưu truyền và hình dung được phần nào về thời cha anh đã đánh giặc.”

 
Tháng 8. 2014

_____________________________

Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2014

TRẠI SÁNG TÁC PHÚ YÊN 2014

VÀI HÌNH ẢNH TRẠI SÁNG TÁC PHÚ YÊN 2014
DO BAN ÂM NHẠC HỘI VHNT ĐỒNG NAI TỔ CHỨC
TỪ 06-12.08.2014

Khởi hành từ lúc 5 giờ sáng, đoàn nhạc sĩ Đồng Nai nghỉ ở bên đường. 20:30 đoàn mới ra tới Tuy Hòa, nghỉ tại khách sạn Công Đoàn Phú Yên
 
Trao đổi sang tác sôi nổi ngay trong khi xe đang lăn bánh
 
 
 
Ns Trần Thị Lệ Hằng hát tang ột ca khúc trên xe
 
NS Cao Hồng Sơn, trưởng Ban Âm nhạc Hội VHNT Đồng Nai khai mạc trại
 
Toàn cảnh sinh hoạt trại
 
 
Triển khai kế hoạch trại
 
Các NS Tống Duy Hòa, Trần Thị Lệ Hằng và Đoàn Quang Trung  hoàn chỉnh tác phẩm tại phòng riêng
 
 
Các NS Đoàn Quang Trung, Thứ 7, Hồng Việt, Ngọc Tuyên đang trình bày sáng tác giao lưu
 
BCT nghe các ca khúc của Ns bạn, bên cạnh Tống Duy Hòa và Đông Châu
BCT có 4 ca khúc tham gia trại : Lời gọi biển đông, Nếu một mai cha không về, Hát về Đồng Nai và Người Đồng Nai
 
Tình nghệ sĩ
 
Các Ns đi tham quan Phú Yên :Cao Hồng Sơn, Đoàn Quang Trung, Ngọc Tuyên, Diệp Hoài Anh
 
 
Nhà thờ cổ Phú Yên
 
Biển Phú Yên
 
 

Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014

VĨNH BIỆT NHÀ VĂN ANH ĐỨC

VĨNH BIỆT NHÀ VĂN ANH ĐỨC



Nhà văn Anh Đức qua đời lúc 21:15 đêm 21.08.2014 tại bệnh viện Thống Nhất , thọ 79 tuổi. Ông quê ở An Giang. Năm 2000, ông được giải thưởng Hồ Chí Minh. Bạn đọc biết đến ông nhiều qua các tác phẩm Một Truyện Chép ở Bệnh Viện, Hòn Đất, Bức Thư Cà Mau

Anh Đức là nhà văn sống và viết cho một lý tưởng, văn ông giàu tính lý tưởng. Tôi yêu thích sự trong sáng, bình dị và nhân hậu trong văn Anh Đức.

Năm 2009 tôi in cuốn Những Tìm Tòi Nghệ Thuật của Anh Đức. Sinh thời nhà văn Anh Đức rất vui khi đọc cuốn này.

Ngày 22.08 tôi và các nhà văn Đồng Nai : Lê Đăng Kháng, Bùi Quang Tú, họa sĩ Nguyễn Nam Ngữ đã về viếng ông tại trụ sở Liên Hiệp các hội VHNT Việt Nam, số 81 Trần Quốc Thảo, Tp HCM.

Kính chúc ông an nghỉ trong tình thương yêu của bạn đọc nhiều thế hệ khắp từ Nam ra bắc.

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

Quả Ngọt- thơ Lê Đăng Kháng


KHÚC GIEO TRỒNG BAN MAI”

(Đọc tập thơ Quản Ngọt của Lê Đăng Kháng-Nxb Văn hóa Văn nghệ-Tp.HCM 2014)

 

 

 

Điều thú vị khi đọc một tập thơ là được đọc những bài thơ hay và khám phá phẩm chất “thi nhân” của tác giả. Bởi đó là cốt cách của một nhà thơ, một khuôn mặt thơ có những đường nét gân guốc ấn tượng. Quả ngọt có là kết tinh cốt cách ngòi bút Lê Đăng Kháng không?

1.“Miêu tả cho hay, cho chân thật và hùng hồn…”*

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với văn nghệ sị :” Trong phong trào thi đua yêu nước của đồng bào miền Bắc và cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam có những người, những việc vô cùng anh dũng, oanh liệt. Đó là những "đề tài" cực kỳ phong phú để cổ vũ đồng bào ta và để giáo dục con cháu ta. Miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn những người, những việc ấy, bằng vǎn, bằng thơ, bằng vẽ và bằng các nghệ thuật khác, v.v...” Có thể nói, phẩm chất thơ và “thi pháp” thơ Lê Đăng Kháng nằm trong yêu cầu này:”Miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn những người những việc” mà anh đã chứng kiến, đã yêu thương.  

Cái “hay” trong thơ Lê Đăng Kháng là sự khám phá cái đẹp của hiện thực. Dù anh phải nói đến cái bi thương, hay cái xô bồ phức tạp đời thường, thì ở góc nhìn nào Lê Đăng Kháng cũng khám phá và miêu tả cái đẹp ẩn dấu. Phẩm chất “nhà thơ” của anh cũng thể hiện ở phương diện này. Anh không viết tụng ca bay bổng hay bày tỏ những bức xúc của cá nhân, cũng không làm thơ để chia sẻ những nỗi niềm riêng tư, mà anh hướng về cuộc đời. Nếu nói rằng “cái đẹp ấy là đạo đức” thì cái đẹp của Lê Đăng Kháng có phẩm chất quý này. Xin đọc Bà mẹ bán khoai (tr. 28) và Ác Tính (tr. 95)

Bà mẹ bán khoai

Chẳng thể đoán bà bao nhiêu tuổi

Nước da như màu nắng màu bùn

Khuôn mặt bà từa tựa như phù thủy

Nhưng càng nhìn càng có nét trẻ trung.

 

Nắng mưa phong trần một tấm lá buông

Sàng khoai mật với vài mươi trái cóc

Quán của bà xúm xít trẻ con

Chúng gọt cóc rồi chấm vào muối ớt.

 

Quán của bà đông khách công nhân

Người quét đường, người vào xưởng thợ

Sáng sáng chở con đi nhà trẻ

Quen quán bà cứ ghé mua khoai.

Trao khoai xong, bỏ tiền vào giỏ

Bà lại ngồi dửng dưng

Có phần như mong nhớ.

 

Đọc trong mắt bà

Người ta không thấy giá vàng lên cơn sốt

Không thấy các cuộc thanh trừng tội ác

Cũng trong mắt bà

Không đào đâu ra lượng thông tin thông thái

Bà chỉ bán khoai một củ mười đồng.

 

Những ngày mưa bà không bán ven đường

Tôi thấy mình bơ vơ như không nơi trú trọ

Một lần mua, tôi nhớ mãi một lần

Trả tiền xong thấy con tôi cầm hai củ

Tôi vội vàng trả mười đồng nữa

Bà dửng dưng xua tay

Tôi đạp xe đi hốt hoảng

Lại nhớ những kỳ lĩnh thưởng

Ký tên và nhận ngàn đồng

Cứ nghĩ như là ân sủng

Bằng cái chính mình khổ sở làm ra.

Mười đồng và ngàn đồng

Bà già bán quán

Ngón tay khô gầy như chân gà mẹ ủ con

Đôi mắt ấm như ngày đông chợt nắng

Trong mắt bà người ta đọc…

Bà chỉ bán khoai một củ mười đồng”

 

Bài thơ là câu chuyện đời thường, được kể cũng bằng kiểu ngôn ngữ đời thường, không trau chuốt. Cách kể gọn, khách quan, mạch truyện nhanh, nhưng những chi tiết miêu tả và hành động truyện được chọn lọc kỹ và đặt trong mối tương phản, tạo nên ấn tượng thẩm mỹ-tư tưởng mạnh mẽ nơi người đọc. Trong những chi tiết xô bồ của hiện thực, tứ thơ chợt lóe lên với sắc màu đặt biệt :” Trao khoai xong, bỏ tiền vào giỏ/ Bà lại ngồi dửng dung/ Có phần như mong nhớ”… Bà già bán quán/ Ngón tay khô gầy như chân gà mẹ ủ con/ Đôi mắt ấm như ngày đông chợt nắng. Những tứ thơ này thật thú vị, bởi nó khắc tạc được vẻ đẹp của một người đàn bà lam lũ, nhưng cũng đồng thời làm lộ ra phẩm chất thi sĩ của người cầm bút, và hơn hết là ở tấm lòng nhà thơ, mở sự khám phá ra “cái đẹp” trong đời thường, cái đẹp thật đáng trân trọng

 

Ác tính

 

“Ác tính không chừa một ai

nó quật ngã chàng tân binh má phính

cái rét từ trong ruột rét ra

vật vã vặn mình

cơ thể không còn giọt nước

sau cơn sốt bạn nằm thoi thóp

có người phát điên

                 khóc rung rung

cậu Tuấn B3 thều thào

          Anh Duy ơi em biết sức mình

          em không thể đi cùng các anh được nữa

          em đã có một con, có vợ

          thương em sau này anh về qua

          anh nhận vợ em làm vợ

          con em, anh cho cháu học hành

          nhắm mắt rồi em biết ơn anh

Cả đại đội bật khóc

chính trị viên cố kìm tiếng nấc

vĩnh biệt người lính nông dân hiền lành

Tuấn nằm lại bên đường giao liên

mộ Tuấn như cột mốc

chỉ đường cho những cuộc hành quân”

 

Bài thơ là một câu chuyện được thuật lại khá cô đọng và ấn tượng. Và hẳn bạn đọc cũng không thể kìm nén được tiếng nấc như người chính trị viên kia trước một hiện thực bi tráng đến thế. Sự xúc động mà bài thơ mang lại xuất phát từ “cái thật”, “cái đẹp: và sự “hào hùng bi tráng”, khúc bi tráng như trong thánh ca. Tác giả không kể tiếp câu chuyện sau đó diễn biến thế nào, số phận các nhân vật ra sao, nhưng người đọc nhìn rõ điều này, cuộc hành quân vẫn vượt lên phía trước, và sự hy sinh đã trở thành “cột mốc chỉ đường cho những cuộc hành quân”. Đó là một cách “kết lửng” mở ra bao nhiêu rung động. Cái đẹp kết hợp với cái chân thựccái hào hùng tự nhiên đến nỗi tưởng như câu chuyện thực là thế, nhà thơ không cần phải dụng công sáng tạo gì thêm. Thưa không phải vậy, viết được một bài thơ như thế này, không phải người thơ nào cũng có thể viết được. Phải giấu cái tôi đi triệt để, nói cách khác, cái tôi nhà thơ hòa trong đồng đội; phải giấu cảm xúc đi, và nén lại trong từng con chữ được chọn kỹ, và phải cấu tứ kín đáo đến từng chi tiết, sao cho khi quả bom thẩm mỹ bùng nổ thì năng lượng thẩm mỹ có thể chiếm hữu trọn vẹn lý trí và trái tim người đọc. Tôi gọi đó là tài năng sáng tạo.

 

2.Khúc gieo trồng ban mai

 

Nhiều người làm thơ, khi viết về  quê hương, về gia đình đã khai thác cái nghèo, cái cơ cực của người thân và qua đó thể hiện tình cảm của mình. Hoặc viết về cái “ngày xưa” tình nghĩa  để phê phán cái bất nhân bất nghĩa của đời sống kinh tế thị trường. Cũng có người chỉ “sống “ với quá khứ , “ăn mày quá khứ” với những hào quang một thời chiến trận. Lê Đăng Kháng không vậy, anh cũng viết về cái nghèo, cái hôm qua nhưng là “gieo trồng ban mai”

 

Sáng nay con ra đồng

Đồng làng ngợp gió mùa xuân

Trên mồ mẹ cỏ non đã mọc

Con thắp một nén nhang

 

Khi con từ mặt trận về

Mẹ không có mặt

Để mẹ cười ra nước mắt

Sờ vào tai vào tóc con mình

Ngỡ trên mình con còn mùi thuốc đạn

Trên lưng con có gói cau khô

Con đặt lên bàn thờ khấn mẹ

Một đời mẹ thắt lưng cho chặt

Ăn trầu thay cơm

Một cuộc đời vùi trong tro trấu

Có những đứa con đi khắp chiến trường

Bom Mỹ ném ngọn đèn phụt tắt

Mẹ vẫn nuôi hy vọng âm thầm…

Mẹ ơi cuộc sống kỳ lạ thật

Khi bom Mỹ vừa ngưng

Đồng làng ta mạ xanh đã mọc

Trên vồng khoai lấm tấm hoa rau khúc

Mẹ nhắc con dồn sức lực

cho mùa cày cấy vụ xuân

sửA sang lại mái nhà, chái bếp

đón một cô gái thảo hiền như mẹ từng mong

lòng con chợt ấm lại

như có mùi lửa thơm trong bếp nhà mình…

                        (Khúc gieo trồng ban mai)

 

Ngôn ngữ thơ Lê Đăng Kháng là ngôn ngữ tường minh, song tình ý lại ẩn mật (tuy không cần phải giãi mã). Niềm hạnh phúc khi đọc thơ như hương thơm quý, không cần nói ra, sợ cái thanh khiết của tâm hồn, cái tinh anh của câu chữ sẽ bay đi mất. Lê Đăng Kháng cũng nói đến nỗi đau mất mẹ, cũng miêu tả người mẹ sống khó nghèo và âm thầm hy sinh, nhưng nhà thơ không nói những nỗi bi thương mà nói đến hạnh phúc trong những chuyện đời thường. Chuyện trồng lúa trồng khoai, chuyện sửa lại mái nhà chái bếp, cả chuyện giục con lấy vợ. Chính những cái đời thường ấy lại làm hiện lên sự kỳ vĩ của một bà mẹ Việt Nam bình dị. “Một đời mẹ thắt lưng cho chặt/ Ăn trầu thay cơm/ Một cuộc đời vùi trong tro trấu/ Có những đứa con đi khắp chiến trường”. Cái đẹp của đất quê, người quê từ gia đình, đến xóm làng hiện lên tươi xanh kỳ lạ. Quá khứ đã gieo trồng ban mai. Đó là một ý tưởng, một tứ thơ định vị được sự khác biệt, sự độc đáo của thơ Lê Đăng Kháng. Giữa những câu thơ kể chuyện bỗng bật lên những lấm tấm hoa tinh tế và thú vị :” Đồng làng ta mạ xanh đã mọc/ trên vồng khoai lấm tấm hoa rau khúc”; lòng con chợt ấm lại/ như có mùi lửa thơm trong bếp nhà mình”.

 

Lê Đăng Kháng có thế mạnh ở những bài thơ viết về đồng quê, bởi tuổi thơ của anh đã có những đêm đuổi bắt đom đóm, nghe tiếng chẫu chuộc ở ao làng (Bâng khuâng nhà cũ), anh đã lớn vì bơi qua sông, và biết yêu sông từ đó (Bến quê), và hồn anh thơm nức hương đồng (Chuông gió). Anh ghi được nét đẹp của đồng quê, người quê. (Gió hào phóng như lòng người châu thổ/ thổi qua đây mát mặt sông Tiền/ ánh trăng cũng xanh màu lá lúa…).Thơ anh không có bóng dáng của đời sống công nghiệp hóa, không có cái xô bồ của đời sống phố thị, đôi khi anh có trăn trở một chút (Chuyện gặp giữa đường, Tự xử, Nhạt rượu) nhưng chỉ thoáng qua, hồn thơ anh là hồn thơ đằm thắm nghiã tình, hồn thơ phẳng lặng như mặt hồ bình yên nhưng lại ẩn dấu vẻ đẹp sức mạnh và bản lĩnh Việt Nam mà chỉ người Việt mới hiểu được (Anh thương binh phơi lúa, Bến Dược sau cơn mưa, Chiều lên thành cổ, Giữa rừng mưa, Chiều xuân Côn Đảo,…)

 

3. Khúc tráng ca của lửa

 

Thơ ca Việt Nam đã có nhiều trường ca. Đỗ Quyên thống kê được 400 tác giả với 947 tác phẩm. Lê Đăng Kháng có tên trong bảng thống kê này (1), nhưng tên tác phẩm được ghi là Ngọn lửa ?(danh sách số 1d, số thứ tự 322). Không biết Ngọn lửa có phải là Khúc tráng ca của lửa?

 

Lê Đăng Kháng gọi Khúc tráng ca của lửa là trường ca. Mạch thơ khởi đi từ những ngày “cả làng nhanh chóng tản cư/ quân Pháp đã qua cầu Phủ Lý” đến ngày “chỉ có một Việt Nam chiến thắng/ phút giây hòa hợp từ đây”, người lính chiến về  quê sống đời sống thanh bình. Ghi lại một chặng đường lịch sử dài như thế, Lê Đăng Kháng đã chọn cách viết như thế nào để thực hiện bước nhảy vọt thời gian và bộn bề những sự kiện lịch sử?, làm sao để không lặp lại cách viết của người đi trước, đồng thời có được cái nhìn mới sau chiến tranh gần 40 năm? Trả lời cho được những vấn đề ấy cũng chính là những nỗ lực khám phá sáng tạo.

 

Lê Đăng Kháng chọn góc trần thuật của người dân kháng chiến và góc nhìn của người lính chiến trường, từ đó anh chọn những khoẳng khắc kết tinh nhất của hiện thực để ghi lại, để suy gẫm và lên tiếng nói. Dòng chảy thơ được triển khai theo tuyến thời gian, tuyến sự kiện và dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình, khiến cho người đọc vẫn cảm nhận được nhất quán hiện thực được phản ánh theo chiều dài lịch sử. Chất sử thi và chất trữ tình đan quyện vào nhau.

 

Lê Đăng Kháng không khai thác sự tàn bạo của lòng căm thù trong chiến tranh mà khám phá cái bản lĩnh Việt Nam, cái đẹp Việt Nam cả trong đau khổ, bi đát và trong chiến thắng. Tất cả đều rất đỗi bình dị nhưng vĩ đại. Ngòi bút tự sự của một nhà văn giúp anh ghi được sắc nét con người, sự việc và những chi tiết thật “đắt”, tươi rói sự thật chiến trường. Nhiều cận cảnh thật xúc động mà chỉ riêng người lính chiến trường Lê Đăng Kháng mới có được. Sức hấp dẫn của thơ lê Đăng Kháng còn toát ra từ sự ngôn ngữ chắt lọc kết hợp với nhịp vận động cuồn cuộn  của thời đại và nhịp đập mãnh liệt của trái tim nhà thơ. Thơ là hơi thở sự sống của người trong cuộc, là nhân chứng tại chỗ của lịch sử.

 

Sau 40 năm, Lê đăng Kháng vẫn giữ được nguyên vẹn hình ảnh, cảm xúc và tâm tư người lính chiến trường trong những năm tháng ác liệt hào hùng để kết tinh thành “Quả ngọt”, quả là điều lạ lùng của trái tim. Cái nhìn của anh về chiến tranh hôm nay là cái nhìn hòa hợp hòa giải dân tộc. Thơ anh cháy lên một tình thương yêu vô biên với dân tộc trong mọi nghịch cảnh của lịch sử. Anh không tra hỏi về chiến tranh, không lý giải những nguyên nhân chiến thắng và chiến bại, bởi chiến tranh là một bi kịch mà dân tộc này phải chịu. Và bởi chiến tranh là tổn thất và hy sinh, tất cả đã qua rồi không ai lại cứ khơi lại để vết thương rỉ máu mãi. Lê Đăng Kháng viết về chiến tranh để nói cái khát vọng hòa bình của dân tộc này, một dân tộc biết “thương người như thể thương thân”, bởi “người ta là hoa đất”.  Từ góc nhìn này, Lê Đăng Kháng đã miêu tả những hy sinh thăng hoa trở thành ánh sáng chói lọi của lương tri và của lịch sử.

 

Làng cháy ghi cái không khí chạy loạn tao tác ngày giặc Pháp tràn  tới

“moóc-chê hú rợn người

những đứa trẻ khóc ngất

                   như chết sài

                   chết đẹn

ngoài ruộng khoai đã có người trúng đạn

cha thả bung chuồng lợn chuồng gà

một bên con, một bện thúng gạo

đòn gánh trĩu hai đầu

tay còn dắt theo trâu

cả làng hớt hải

               bồng bề gánh gồng

xcairayđơ bay sát ngọn tre

đạn đum đum như trấu vãi

cả làng túa ra

          như ong vỡ tổ

nhanh lên

nhanh lên…”

 

Trong hang núi ghi lại cảnh : “cả làng chia nhau bát cháo, những đứa trẻ /vừa đẻ một giờ chiều/ đã lên cáng chạy loạn, …những đứa rơi xuống cầu Đồng Sơn..cả làng khắc cốt từ đây”.

 

Mười tám năm sau, “từ những đêm hang đá ấy/ nhiều đứa con trai vụt lớn lên săn chắc hình hài…” Miền Nam gọi, “thầy trò như cánh chim/ cùng bay trong bão táp”(Bi tráng). Họ đã lên đường “quân phục thùng thình, lúng túng”(Lên đường), với bao nhiêu lưu niệm trong “đôi mắt học trò nông dân trong như ngọc”,”vượt Trường Sơn chân cứng đá mềm” cùng những lời hò hẹn chờ nhau ngày thống nhất (Lưu niệm). Nhưng trường sơn ác liệt.” Nhiều tân binh quê Hà Tây, Nam định/ lúc giải lao ngồi bật khóc ngon lành/ đôi chân phồng rộp rỉ máu/ ba lô siết vào vai/ quai súng siết vào vai/ Đại đội trăm người vào đến Xê Bang Hiên/ nay chỉ còn hai trung đội…”(Trường Sơn). Những trận bom B52 ác liệt :”đồng đội trộn đều xương máu/ hình hài chia đều trong mỗi mảnh tăng/ các anh nằm lại Trường Sơn…các anh đã hóa thân vào ghềnh thác/ bồi đắp cho hùng vĩ Trường Sơn”(B52).Trong cái gian khồ ấy, một “đĩa rau lang ở Lệ Thủy/ đã trở thành cổ tích hành quân/ bốn tháng như bốn năm dằng dặc/ điệp khúc cơm nắm và mắm ruốc/ thèm một đã rau muốn phát điên…”(Rau) và sốt rét ác tính đã cướp đi sinh mạng của bao đồng đội, “Ác tính không chừa một ai.”

 

Tương phản với những những gian khổ, ác liệt, hy sinh là “Lửa”. Lê Đăng Kháng đã viết một chương anh hùng ca rực lửa. Mạch thơ có tầm vóc sử thi về những ngày toàn thắng mùa xuân 1975, khởi từ ngày đầu tiền công giải phóng Tây Nguyên, Phước Long, rồi Định Quán, Xuân Lộc.

“Mười một ngày đêm trong chảo lửa

Chiến sĩ ta như thép như gang

Mỗi căn nhà mỗi ngã tư góc phố

Thực sự nỗi kinh hoàng

Những chiếc xe tăng như lá chắn

Đưa cơm và chuyển thương binh

Ta dồn sức đập ta cửa thép

Trận quyết chiến này cho cả miền Nam…

… đường về Sải gòn chỉ còn một giờ xe chạy/

năm cánh quân như những gọng kìm

…Thấn tốc! thần tốc! Thần tốc nữa/

chớp thời cơ giải phóng miền Nam/

khúc Quân hành vang lên giục giã…

                              (Lửa)

 

Nhưng hạnh phúc và cảm động  biết bao giây phút chiến sĩ ta tại bưu điện Sài gòn viết thư cho mẹ

Mẹ kính yêu!

Chúng con túa vào Bưu điện Sài gòn

màu áo xanh còn vương khói súng

có cậu mới vào chiến trường hai tháng

người đã xa mẹ mười năm

kê mảnh giấy lên chiếc ba lô trận mạc

nắn nót những dòng dầu tiên

Thưa mẹ

Con đang ở bưu điện…

con ngồi cách thùng thư mươi bước…

 

Người lính chiến không kể cho mẹ về niềm vui chiến trận mà kể niềm vui đất nước tự do, niềm vui của một dân tộc chiến thắng và hòa hợp, niềm vui của cuộc sống và ước mơ hòa bình . “Con ước biến thành cánh chim/ bay về làng trong chốc lát/ được ăn bát cơm mẹ thổi/ cùng những đọt lang mẹ hái ở vườn nhà/ mẹ ơi hòa bình rồi dù ăn rau ăn mắm/ cũng là giây phút thần tiên…”. Nhưng trong niểm vui lớn lao đó, canh cánh bên lòng là những đồng đội đã nằm lại dọc Trường Sơn.

 

Mẹ ơi!

        hàng ngàn đồng đội của con

đã không về Sài gòn sáng nay

họ nằm lại các ngả đường chiến thắng

từ Tây Nguyên, Xuân Lộc, Đồng Xoài…

máu tim họ nhuốm màu cờ bất tử

…lửa tim bùng ngọn đuốc tương lai…

 

có ai nhớ những nấm mồ

rải rác dọc Trường Sơn

những đoàn quân đi hàng năm vào mặt trận

cơn sốt rét rừng quái ác

treo nắm xương trên cánh võng giữa rừng

để lại những bài thơ viết dở

hồn hóa ngàn cánh bướm

thành khúc ca huyền thoại dọc Trường Sơn…”

 

Hai đoản khúc Khúc gieo trồng ban maiTrăng là những áng thơ đẹp về khát vọng cuộc sống thanh bình. Hồn thơ và hồn quê chan hòa trong nhau, ánh lên những sắc màu hạnh phúc.

Con tha thẩn giữa cánh đồng

lúa vàng như sóng đổ cùng chân mây

tiếng ai gọi vịt đâu đây

lòng mương cá quẫy cuối ngày đớp trăng

chiều quê ai đốt lửa đồng

lòng con như sợi khói nồng bay lên

 

Đêm nay trăng chảy tràn đường thôn

những đống rơm phập phồng trăng thở

lung linh sau rặng tre

bếp nhà ai bập bùng lửa đỏ

kể về làng quê thanh bình…

                  (Trăng)

Xin đọc đoạn sau đây trong trường ca Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh (1977) để thấy sự khác biệt của thơ Lê Đăng Kháng viết về chiến tranh hôm nay.

 

Xuân Lộc
Tôi gọi những căn nhà trơ trọi hàng hiên
Xiêu vẹo đỡ một hoàng hôn rách rưới
Vạn niên thanh
Tức tưởi
Chết bò lê dưới ghế nhựa ba chân
Ghế hất sấp ấm êm vào lổng chổng
Kẻ thù từ đó hiện ra
Kê thường dân làm bệ bắn
Xuân Lộc
Tôi gọi những cánh rừng cao su
Rừng cao su bật gốc
Chân nhang la liệt đất
Kẻ thù từ đó hiện ra
M.48 bò lên sau bom ngạt dạo đầu
Trăm mảnh đạn đuổi theo người tị nạn
Kẻ thù tàn ác hết những gì chúng có
Những ngày chúng ta gan góc hết mình
Một gốc cao su nửa giờ trước là ta, nửa giờ sau chúng chiếm…
…Trước mặt ta là Sài Gòn
Sau lưng chúng cũng là Sài Gòn
Chúng lượm truyền đơn bắn trả ta
Chúng mặc áo cà sa đi chôn mìn định hướng
Chúng phóng M.72 trên nóc nhà thờ…


4. Qủa ngọt thơ Lê Đăng Kháng

 

Thơ Lê Đăng Kháng không lạ về lời, không mới về tứ, không hiện đại về nội dung, bút pháp, cũng không tài hoa liên tưởng bay bổng, nhưng Lê Đăng Kháng thu hoạch được nhiều “quả ngọt” trong tập thơ này.  Vậy điều gì làm nên thơ Lê Đăng Kháng?

 

Ở nhiều tập thơ, nhân vật Tôi (tác giả) thường là nhân vật trung tâm. Tác giả luôn tìm cách phô trương cái tôi, khiến cho những giá trị khác của thơ bị mờ nhạt. Cái Tôi nhà thơ Lê Đăng Kháng là cái tôi hướng ngoại để kiếm tìm và chia sẻ, để tự nhận thức lòng mình, giá trị đời sống của mình.(Anh thương binh phơi lúa, bến Dược sau cơn mưa, Chuông gió, Chiều lên thành cổ, Chiều xuân Côn Đảo ) Có một dòng chảy hiện sinh trong mỗi bài thơ. Thực tại đang diễn ra và dòng suy tư trôi chảy cùng một lúc, bài thơ trở thành những khoảnh khắc đang trải nghiệm của nhà thơ. (Chuyện gặp giữa đường, Bà mẹ bán khoai, Mắc nợ Bạc Liêu, Hành trang, Quả ngọt, Giữa rừng mưa)

 

Lê Đăng Kháng đặc biệt thành công ở những bài thơ tự sự. Ưu thế của ngòi bút viết văn xuôi giúp anh có cách kể nhanh, chọn được cảnh sắc, nhân vật, tình huống đắt giá. Câu chuyện, tình huống tự nói lên nhiều điều, nhiều hơn ngôn ngữ chuyển tải. Chất thơ của câu chuyện chính là cái đẹp của đời sống được thanh lọc qua trái tim tinh khôi của tác giả (Anh thương binh phơi lúa, trường ca Khúc tráng ca của lửa). Điều này khác biệt với trường ca của nhiều tác giả khi cố ý khề khà “con cà con kê” để kéo dài bài thơ.

 

Tuy vậy, thơ tình yêu của Lê Đăng Kháng không hay bằng thơ chiến trường. Anh có những bài Lục bát hay nhưng chưa hiển hiện thành cốt cách (Anh thương binh phơi lúa, Giữa rừng mưa). Khi những nghĩ suy chưa thật chin và trái tim chưa kết tinh đủ độ ngọt thì thơ của anh thiếu thuyết phục. Và, tôi rất tiếc, nếu Khúc tráng ca của lửa được anh viết đài hơn, hẳn sẽ là một trường ca ghi được dấu ấn đẹp trong thơ ca Việt Nam đương đại.

 

Điều để lại trong lòng bạn đọc là sự chân thật tinh khôi của hiện thực và của tâm hồn tác giả, làm nên giá trị thơ. Bạn đọc cũng yêu một hồn thơ “quê kiểng” ấm áp tình người, tình đời, chia sẻ những nỗi niềm tin cẩn. Lê Đăng Kháng nói :”tôi nhẹ lòng vì đang được chia sẻ

 

Được sống những phút giây này của nhà thơ thì thật thú vị

Con tha thẩn giữa cánh đồng

lúa vàng như sóng đổ cùng chân mây

tiếng ai gọi vịt đâu đây

lòng mương cá quẫy cuối ngày đớp trăng

chiều quê ai đốt lửa đồng

lòng con như sợi khói nồng bay lên

 

Tháng 7. 2014

 

 

_______________________________________

(*) Hồ Chí Minh, Nói chuyện trong buổi lễ bế mạc Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III (6-5-1962). Báo Nhân dân, số 2.965, ngày 7-5-1962.

(1) http://vanvn.net/news/31/1645-400-tac-gia-truong-ca-viet-nam.html