Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

BÙI GIÁNG, AI NGƯỜI CHIA SẺ


BÙI GIÁNG , AI NGƯỜI CHIA SẺ

 Bùi Công Thuấn

 


            Đã có nhiều người viết về  Bùi Giáng, tôi chỉ ghi lại vài cảm nhận cuả mình , như là để góp thêm một cách hiểu thơ ông ,  may ra chia xẻ được chút nỗi niềm cuả ông .

 

1. Trạng thái “ điên “ cuả Bùi Giáng có ý nghiã gì ?.(*)

 

                 Theo thầy Thích Nguyên Tạng ( chùa Pháp Vân, Gia Định, Sàigòn ) , Bùi Giáng tự ghi tiểu sử cuả mình cho thầy trong cuốn sổ tay  vào  buổi trưa ngày mùng 10 tháng 11 năm 1993 như sau :                          

                       “    1971 – 75 - 93

Điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang

Rong chơi như hài nhi (con nít)

Được gia đình ông Phó Chủ Tịch (482) Lê Quang Định,  Hội Đồng Thành Phố đối xử

                          thơ mộng thênh… “

Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 ỏ làng Thanh Châu xã Vĩnh-Trinh huyện Duy Xuyên Quảng-Nam . Tạ thế tại bệnh viện Chợ Rẫy Sai-Gòn, hồi 2 giờ chiều ngày 7 tháng 10 năm 1998.           Ông là cháu ngoại của tổng-đốc Hoàng-Diệu, con của ông Bùi-Thuyên và bà Huỳnh-Thị Kiền làm nghề dậy học ở Đà-Lạt, Sài-Gòn, biên soạn sách giảng luận về văn học, triết học, kiếm hiệp, viết văn, làm thơ…

Theo Võ Đắc Danh ,   hồ sơ lưu trữ tại nhà thương điên Biên Hoà ghi nhận Bùi Giáng nhập viện hai lần. Lần thứ nhất vào năm 1969, lần thứ hai vào năm 1977, thời gian này Nguyễn Ngu Í vẫn còn trong bệnh viện, hai người cùng ở khu 3 .


Bệnh án của Bùi Giáng có đoạn ghi: "Bệnh tái phát từ tháng 4 năm 1969, có hôm thức suốt đêm để viết, nói huyên thuyên, chơi chữ, có khi la thất thanh, ý tưởng tự cao tự đại. Hay phát biểu ý kiến về những vấn đề chính trị, văn hoá trọng đại, có ý nghĩ bị người ta phá hoại sự nghiệp văn chương. Tháng 3 năm 1969 bị cháy nhà và cháy tất cả sách vở quý báu nên đương sự bị bệnh mỗi ngày một nặng hơn...".

          Tuy nhiên đọc thơ Bùi Giáng , tôi không thấy bệnh điên ảnh hưởng gì đến câu chữ cuả ông. Trái lại , ông ý thức rõ trạng thái điên cuả mình , điên là một thái độ sống có ý thức.

              Đời này đất đá cằn khô
                                                      Điên duỗi dọc, điên ngửa nghiêng
                                                      Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời

                                                                                                       ( Dzách )

                                                      Uống và say nói lăng nhăng
Miệng mồm lý nhý thằn lằn đứt đuôi
Tâm can chân thể chôn vùi
Mặt trời không mọc với người lem nhem
Còn đâu nguyệt tỏ bên thềm
Ôi người uống rượu còn thêm điên rồ

                                                                                    ( Người Điên Uống Rượu )

Ông điên từ một lần đầu
Tới lần đuôi đứt ruột rầu rĩ đau
Tuyệt mù biển cạn sông sâu

Bụi hồng tản mác trước sau bây giờ  .1996

                                                                                   ( Ông Điên )

Anh đã định suốt thiên thu vạn kỷ

Làm thằng điên rồ dại suốt thiên thâu

Nhưng em ạ, dường như anh vô lý

Lúc đoạn trường anh đứt ruột khổ đau

                                 ( Quá Khứ Cuả Anh )

 

                        Những dòng thơ “ điên “ ở trên như ẩn chưá một điều gì sâu kín lắm trong tâm hồn Bùi Giáng . Ngôn ngữ thơ vưà gói kín vưà gợi ra trạng thái mơ hồ , nưả như đuà , nưả như thật , nưả hồn nhiên , nưả thương đau và cô độc cuả tâm hồn Bùi Giáng . Không có mặt trời mọc , không có trăng bên thềm , chỉ có tuyệt mù sông sâu , biển cạn  , bụi hồng và sự hiện hữu người ngợm vô thường trong  nỗi đau đứt ruột

 

2. Thơ Bùi Giáng , thơ tư tưởng

 

            Trong thơ , người đọc khó khám phá ra nỗi đau thực sự cuả Bùi Giáng là gì, nhưng nỗi đau ấy bàng bạc trong hồn thơ ông

 

Niềm đau đớn xót xa như vĩnh quyết
Niềm điêu linh như vĩnh biệt muôn đời
Tôi về giữ mộng mù khơi
Kết thành viễn tượng cho đời chiêm bao
                                                    ( Ngày Nay Ngày mai )

Ăn làm sao? nói làm sao?
Thủy chung muôn một? còn đau đớn nghìn?
                                                    ( Mười Hai Con Mắt )

            Phải chăng đó là nỗi đau cuả những cuộc tình “ rã đôi “ không thành lời . Sự “ chia ngã đường thu “ đã để lại những vết thương tâm  không rõ  nguồn cơn , nở thành những “ đoá đoá sầu “  để Bùi Giáng tặng cho đời .. Ông có nhắc đến một vài người cụ thể : “Bình sinh mộng tưởng vấp phải niềm thương yêu của Kim Cương Nương Tử,  Hà Thanh Cố Nương và Mẫu Thân Phùng Khánh ( tức Trí Hải Ni Cô) “ ( tiểu sử tự ghi ) Nhưng những người phụ nữ này được Bùi Giáng  tôn vinh như là mẫu thân sinh đẻ ra mình , tuyệt không có chút gì là quan hệ  nhục thể cuả tình yêu nam nữ , nhớ mong , hờn ghen , đau khổ,  hẹn hò,  mộng mơ như trong thơ tình cuả những nhà thơ khác.

Tặng đời đóa đóa hoa sầu
Nhớ nhau từ đóa mộng đầu rã đôi                            

                                     ( Theo Áng Mây bay )        

Những thương nhớ lạnh bao giờ
Đường Thu chia ngã chân trời rộng tênh
                                             ( Mai Sau Em về )

Kính thưa công chúa Kim Cương,
Trẫm từ vô tận ven đường ngồi đây .
Tờ thư rất mực móng dày,
Làm sao định nghĩa đêm ngày yêu nhau?

                                      ( Kính Thưa )

Con về giũ áo đười ươi
Nực cười Trí Hải ngậm ngùi mẫu thân
Đẻ con một trận vô ngần
Mẹ còn đẻ nữa một lần nữa thôi
Mẫu thân Phùng Khánh tuyệt vời
Chiều xuân thơ mộng dưới trời bước đi

                                         ( Thơ Điên )

 

Nhân vật Em trong thơ Bùi Giáng  thấp thoáng bóng hình một con người cuả thực tại ,

cuả kỷ niệm cuả yêu thương , nhưng  cũng là  huyễn hoặc “ sương bóng “ tâm tưởng để Bùi Giáng giãi bày

 

Em đi sương bóng vô ngần
Nhìn anh như ngó một lần người điên
                                                      ( Mộng )

Xin ngó lại bàn chân em bước
Vì em đi vào lúc gió đương bay
Năm ngón nhỏ như sương đầm lá ướt
Em đưa tay anh vói bắt chừng này
Ngồi kể lại chuyện ngày xưa cũ kỹ
Em không nghe vì anh cũng không nghe ..
                                 (  Nhiên Tượng )



             Chuyện tình yêu chỉ thoáng qua rất nhẹ vậy “ Niềm đau đớn xót xa như vĩnh quyết “ cuả Bùi Giáng là gì ? Có lẽ xuất phát từ thẳm sâu  ý thức về thân phận thiên tài , số kiếp kẻ  phong vận bạc mệnh mà Nguyễn Du  nói đến trong Độc Tiểu Thanh Ký ? Xưa nay người phong vận phải mang lấy những hận sự , những kỳ oan , như một định mệnh , biết “ hỏi đoạn trường từ đâu “ , dù có hỏi trời cũng không có lời giải đáp ” . Cổ kim hận sự thiên nan vấn / Phong vận kỳ oan ngã tự cư “. Bùi Giáng  tự kham lấy những nghiệp chướng ấy chăng , rồi nín thinh như cỏ cây

                       

Em về trúc thạch mốt mai
Sẽ nhìn thấy mãi thiên tài chết điên

                                          ( Mười Hai Con Mắt )

Thưa rằng bạc mệnh xin kham
Giờ vui bất tuyệt xin làm cỏ cây

                                          ( Chào Nguyên Xuân )
Dấu bèo phong vận nín thinh
Sóng phơi trường mộng bình minh vô thường
Nắng hồng chiếu bóng đài gương
Lời nghi hoặc hỏi đoạn trường từ đâu …

                                               (   Vẫn Là Là )

 

            Thực ra , trong bản chất cuả thân phận  làm người  , Bùi Giáng đau nỗi đau kiếp nhân sinh , nỗi đau cuả sự thất bại trong nỗ lực  vượt qua “ bốn nuí “ ( Chữ cuả Trần Thái Tông  ,1218 - 1277  , trong Thiền Tông Chỉ Nam ) ,  vượt qua   sắc không  , ngũ uẩn , vô thường  . Bùi Giáng  không sao  đặt được bước chân vào cõi thanh tịnh vô vi (Asamkrita )  . Ông tự dày vò mình trong hình hài “  đười ươi “ , con vật , giống khỉ , ngưả mặt cười vu vơ (  hình ảnh “ điên “ cuả Bùi Giáng )

 

                                                         …Em về giũ áo mù sa

 Tiền trình vạn lý anh là đười ươi…

 

                                                        …Em về giũ áo đười ươi

                                                            Trút quần phong nhụy cho người phụ nhau.

                                 

                                                 Đười ươi tại hạ ra đời

                                                            Thời gian rạch xé tô bồi cho em.

                   

                                                        ….Ông  già rất mực đười ươi

                                                             Già nua lắm lắm còn cười vu vơ.

 

            Nhận ra “ tinh thể đười ươi “ trong thân phận người là một  giác ngộ tư tưởng cuả Bùi Giáng .

 

Hoặc rằng người cũng là tôi
Hay là tôi cũng là tôi như người
Ấy rằng tinh thể đười ươi
Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và
Ấy rằng một cũng là ba
Là hai mai một mốt là hôm nay.

 

Trong Thiền Luận ,  Daisetz Teitaro Suzuki   nhắc đến Thiền Thoại sau : Khi Ngưỡng

Sơn ( 804-899) hỏi về Phật tánh. Thiền Sư Hồng Ân thí dụ như vầy: “Như ngôi nhà có sáu cửa nhốt khỉ đột. Ở ngoài có người hô to “khọt khọt”, khỉ đáp lại “khọt khọt”, cứ thế sáu cửa cùng hô cùng ứng. Ngưỡng Sơn hỏi lại: “Ví như lúc ấy khỉ ngủ thì sao?". Hồng Ân bước xuống một tay nắm Ngưỡng Sơn, vừa múa vừa nói: “Khỉ ơi khỉ ơi , ta với ngươi cùng đối mặt nhau đây”.

 

 Đoạn thơ  trên biểu hiện  tâm hồn , tính cách , kiều nói năng rất  Thiền cuả Bùi Giáng .

 Bùi Giáng nhận ra Phật Tánh trong hình hài đười ươi cuả người , cuả tôi  . “ người cũng là tôi , tôi cũng là người , ấy rằng tinh thể đười ươi “ . Vũ trụ ,  thời gian là nhất thể , tự tại , không sinh diệt : “ một cũng là ba , là hai , là một ; mai , mốt cũng là hôm nay “ . Sự giác ngộ như thế là bước giác ngộ thứ nhất để dẫn đấn đại ngộ . Đây không phải là sự  “ xoá nhoà ranh giới giữa cái tôi và cái ta, giữa cái riêng và cái chung” như nhận xét cuả  Nguyễn Hưng Quốc .

                        Trong đoạn thơ trên , phải chăng Bùi Giáng mượn lời  thiền sư Hồng Ân để thể hiện tư tưởng cuả mình ? Rõ ràng  tư tưởng thơ Bùi Giáng là  tư tưởng Phật Giáo  . Đời hư huyễn , như hạt sương , bọt nước , như ánh chớp , như áng mây , vô thường  , chiêm bao ( Bùi Giáng có nhiều bài thơ đề tài Chiêm Bao ) .Tự Tánh cuả vạn vật là KHÔNG, sự từ bỏ  Ngã  , không để vướng mắc vào bất cứ cái gì đạt tới tinh thần  “ Ưng vô sở trú “,  ( Giới thiệu Kinh Kim Cang – Thích Thái Hoà ). Dường như Bùi Giáng đang phát tâm, an trú tâm và hàng phục tâm, đoạn trừ ngã chấp, ngộ nhập ngã- không

           “Anh đã định sẽ cùng em kể lể

Một nỗi đời hư huyễn giữa chiêm bao

Vườn hiu hắt nguyệt hờn mây nhỏ lệ

                                                            Một mùi hương hồng tụ ở nơi nao”  
                  

Anh đã định bỏ hoàng hoa say đắm

Bỏ tâm tư về vắng lặng phương trời

Bỏ tất cả tâm tình xưa say đắm

Tới muôn sau tình tuyệt vọng không lời

                           ( Quá Khứ Cuả Anh )

 

                        Có lúc  Bùi Giáng đã đạt đuợc sự hồn nhiên thanh tịnh (1) , vượt qua sắc không , đạt đến tinh thần cuả Hoa Nghiêm , hoà trong  tạo vật . Tôi không thấy hồn thơ Bùi Giáng bị vây khốn như Thanh Tâm Tuyền đã từng viết về ông .

 

                                                              Rong rêu ngày tháng rong chơi
Tìm xuân tinh thể chốn nơi nào là
Sưu tầm túy vũ cuồng ca
Hồn nhiên như thể như là hài nhi?
                                        ( Bé Con Ơi )

                                                          …Một hàng cây bóng thần tiên
Dập dìu ở giữa khuôn viên thêu thùa
Bé con bốn đứa nô đùa
Một trai ba gái bốn mùa chạy quanh
                                     ( Thiên Thanh Là Là )

                                                               Xin yêu mãi mãi và yêu nhau mãi
Trần gian ôi! cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn.
                                              (  Phụng Hiền )

                                                              Nâu sồng ăn mặc sớm hôm
Ðêm nằm ngó nguyệt sáng dòm song the.
                                        ( Ăn Mặc Nâu Sồng )

Dưới mắt người hành đạo theo tinh thần Hoa Nghiêm, con ong, cái kiến cho đến cọng cỏ, bụi gai, không cái gì mà không dễ thương, không phải là Phật ,  kể cả sơn hà đại địa , phiến đá,  dòng suối trong  rừng, một miếng gỗ, cục đá hay đồng chì ..

                      Nhưng Bùi Giáng không trở thành Thiền Sư , ông vẫn sống với  thân phận đười ươi khỉ đột  giưã đời  , vẫn tra hỏi tìm kiếm mỏi mòn trong cõi bể dâu , và ngày càng xa hút .. trong cái nhìn cuả con người , cái  nhìn đười ươi  , nghi hoặc  , đo , đếm  .

 

Đười ươi giũ áo tình phong nhã

Khỉ đột trút quần tưởng Việt siêu …

                                      ( Chiêm Bao 7 )

  Cố gắng trăm năm tìm kiếm mãi

Mỏi mòn nghìn mối thể thân ly …

                                 ( Chiêm Bao 3 )

Hỏi tên rằng biển xanh dâu

Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa

Gọi tên? Rằng một hai ba

Đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm

                                                                                                 ( Tặng Mã Giám Sinh  )

                        Ông chỉ đạt tới tiểu ngộ mà  không đạt tới đại ngộ  cuả  Thực tướng vô tướng ; thực tánh vô tánh . Trạng thái “ điên “ cuả Bùi Giáng chính là trạng thái bất lực trước cuộc vượt qua đề  “ tái sinh “, mặc dù Bùi Giáng đã nhiều lần nói đến tái sinh.

 

Anh đã định sẽ yêu đời suốt kiếp

                                                            Suốt thiên thu từ vạn thuở phiêu bồng

                                                            Rồi anh chợt thấy mình luôn liên tiếp

                                                            Nửa điên cuồng nửa rồ dại bông lông

                                                                                                  ( Quá Khứ Cuả Anh - tại Lê Gia Trang 1991 )

Tỉnh ra nửa sợ nửa mừng
Tận cùng gió núi trăng rừng tái sinh

                                               ( Chuyện Chiêm Bao 20)

  Tận cùng gió gác trăng lầu

  Tái sinh rừng biển buồn rầu trăm năm

                                                 ( Chiêm Bao 21 )

                         Chưa giác ngộ , người ta thấy núi là núi sông là sông. Giác ngộ rồi , người ta vẫn thấy núi là núi , sông là sông , nhưng là một tâm hồn tái sinh . Tái sinh trong tâm bình thường không phải tâm sai biệt  . Như trở về nhà xưa , hoa xuân như lộng lẫy hơn, dòng nước đầu non như chảy mát rượi hơn, trong vắt hơn , trong mọi vật bình thường là toàn thể vũ trụ , là tự do.

 

                        Chính vì không vượt qua được sắc tướng huyễn hoặc hồng trần  , Bùi Giáng cứ phiêu du trong cõi đời cô độc mù khơi , hành trình ấy như một bế tắc , lại vưà như một khám phá hiện sinh làm nên thơ Bùi Giáng , những bài thơ ấy chia xẻ được với mọi người nỗi niềm gần xa . Bởi vì nếu Bùi Giáng “ ngộ “ được chân như , có lẽ thơ Bùi Giáng chỉ còn là những bài kệ để thuyết pháp mà thôi  .

                         

tôi người thủy thủ ra đi
chân trời thấy nước đợi kỳ lên mây
sao đêm đố xuống triều đầy
ai đưa kiếm vút ngang mày hư không
                                     (  Mái Hiên )

lạnh lụng dấu bước bờ sau
mấy đời ly biệt về đau trong mình
năm sầu sa mạc nín thinh
đi vào giá buốt mông mênh cuối trời
                              ( Mái Hiên )

3. Giá trị thơ Bùi Giáng

 

                     Thơ Bùi Giáng tài hoa ở câu chữ , những câu chữ chưá đầy bí mật  . Nhiều người đọc thơ Bùi Giáng không hiểu , tấm tắc khen , rằng là  tài hoa , rằng là hay …  nhưng bất lực , không  giải mã được  ,  đành “ tán “ như vầy : “có khi không hiểu hết nghĩa nhưng tâm hồn vẫn bàng bạc một nỗi cảm hoài. Có thể thơ Bùi Giáng nói được đôi điều rất chân thật với tâm hồn ta, và ta được hưởng ít giây phút sung sướng phiêu bồng mà hầu hết chúng ta đã đánh mất, đã rời quá xa trong cuộc sống đầy phân chia đến chỗ cằn cỗi này”.( Phạm Xuân Đài ) . Nguyễn Phú Long trích dẫn thơ trong  một bài luận về “Sở Dĩ Nhiên”  cho rằng , đọc thơ Bùi Giáng không cần hiểu ý nghiã bài thơ  :” Nhưng tại sao lại đặt vấn đề ý nghĩa cho một bài thơ nhỉ ? Bài thơ là bài thơ, những gì ta thấy ta đọc là những gì ta đọc ta thấy vậy thôi. Đừng đi tìm ý nghĩa. Bài thơ như thế đấy, nó không cần có y’ nghĩa.”  Nguyễn Hưng Quốc còn đi xa hơn : “ Bùi Giáng rất gần các nhà thơ hậu hiện đại. Bùi Giáng còn gần gũi các nhà thơ hậu hiện đại ở một khía cạnh khác nữa: một số khá nhiều những bài thơ của ông là loại thơ không thể giảng .Nói cách khác, bài thơ là bài thơ. Không có ý nghĩa nào ẩn đằng sau bài thơ để chúng ta đào xới, tìm kiếm… Chúng ta không thể phân tích. Chúng ta chỉ cần nghiệm (experience). Đọc lần thứ nhất: chúng ta không hiểu gì cả. Đọc lần thứ hai: chúng ta vẫn không hiểu gì cả. Đọc lần thứ ba: chúng ta lại vẫn không hiểu gì cả.”

 

                   Ô hay ! Bùi Giáng làm thơ là để mong có người chia xẻ tâm sự điêu linh , vậy mà người đọc lại không hiểu , không cần hiểu , không cần đọc những gì ông gửi gắm qua câu chữ , thử hỏi Bùi Giáng có buồn không ?

Xổ bầu tâm sự điêu linh
Ai người chia xẻ với mình với ta

                                             (Một giờ)

                   Không phải thơ Bùi Giáng là “  thơ gần với thơ Hậu Hiện Đại, bài thơ là bài thơ , không có ý nghiã nào ẩn sau để chúng ta đào sới “, đấy chỉ là cách nói cuả sự bất lực trước ngôn ngữ tư tưởng cuả thơ Bùi Giáng . Thơ tư tưởng phải hiểu bằng tư tưởng , không phải bằng câu chữ ; hơn nưã  Bùi Giáng đã dùng một loại ngôn ngữ “ khép kín “ ,  yêu cầu rất cao đối với người đọc để có thể hiểu thơ ông :

Ngữ ngôn khép kín mặc dầu
Hùng tâm tim máu óc đầu mở ra
Dịu dàng cuối lá đầu hoa
Mười về châu lệ chín sa dòng dòng

                                     ( Bé Con Ơi )

Bùi Giáng bảo rằng phải mở óc trong đầu ra , mở máu trong tim ra , phải có hùng tâm , phải trở về chín phương  trời mười phương Phật  nước mắt dòng dòng tuôn rơi ( như chín chiều ruột đau ) mới có thể đọc Bùi Giáng , lại phải biết trân trọng nâng niu , dịu dàng như nâng niu hoa lá . Nhất là phải có

 “ hùng tâm “ , đừng nghi tâm .Chữ “ hùng tâm “ theo tôi , là chữ Bùi Giáng mượn cái tâm cuả Nguyễn Du : Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên / hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên “ ( Tạp Thi ) . Vời yêu cầu như thế , việc đọc thơ Bùi Giáng thật không dễ dàng .

 

Thực ra thơ Bùi Giáng là thơ tư tưởng , thể tính cuả nó là tư tưởng , không phải câu chữ , hơn nưã  ở nhiều bài thơ , Bùi Giáng đã dùng kiểu diễn đạt “ vô ngôn “ cuả Thiền . Với kiểu ngôn ngữ này , càng bám vào ngôn ngữ , người đọc càng bị mắc bẫy bởi chính tư duy cuả mình  . Thí dụ ;

             Đệ tử hỏi:     - Thế nào là Phật?

             Thiền sư Tịnh Không (1091-1170) đáp :

                                     - Nhật nguyệt sáng soi ức triệu cõi

                                       Ai hay mua móc gội non sông! ( Thiền Uyển Tập Anh )

 

             Bùi Giáng cũng trả lời những người hỏi mình :

Hỏi tên rằng biển xanh dâu

Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa

Gọi tên? Rằng một hai ba

Đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm

                                                   ( Bùi Giáng )

            Cách trả lời cuả Bùi Giáng trong đoạn thơ trên cũng là  cách trả lời cuả thiền sư Tịnh Không . Nếu người đọc chỉ tra hỏi , đo , đếm với cái tâm sai biệt ( Nghi tâm ) , chỉ bám vào câu chữ , thì  không thể hiểu ông nói gì . Bởi vì Bùi Giáng tồn tại vô sắc tướng trong đoạn thơ .  Người đọc cảm được cái hay cuả  đoạn thơ  nhưng khó giải thích được được bản chất thẩm mỹ cuả đoạn thơ là gì  . Đây chính là đặc điểm ngôn ngữ Thiền.  Không hiểu mới là Thiền . Bởi vì Thiền  “ ..Bất lập văn tự , trực chỉ nhân tâm “,  Thiền loại bỏ tất cả sự nhận thức cuả  trí.   Khi còn bám vào sắc tướng ( lời ) còn nghi tâm , thì không hiểu được ý ở ngoài lời.

Tất nhiên bằng trực giác , ta vẫn có thể hiểu được lớp nghiã tường minh cuả văn bản , bởi vì trong ta đã có sắn vốn ngôn ngữ để hiểu . Ta hiểu được  “ Biển xanh dâu “ vì trong ta đã có câu thơ Kiều “ Trải qua một cuộc bể dâu “   .Trong ta , ai cũng đã từng một lần dệt mộng cho  tình đầu cuả mình ,

” mộng ban đầu “,  “ mộng dưới hoa “ , “ mộng bình thường “ . Đoạn thơ còn quen thuộc ở cấu trúc giống với đoạn thơ Nguyễn Du giới thiệu Mã Giám Sinh , một nhân vật để lại nhiều ấn tượng cho người đọc Kiều . Sự thú vị càng tăng lên  khi người đọc nhận ra  phép đối trong câu chữ cuả Bùi Giáng với câu chữ cuả Nguyễn Du : “ Hỏi quê: “ rằng huyện Lâm Thanh cũng gần “ ( truyện Kiều ) , đối với “ Hỏi quê ? Rằng mộng ban đầu đã xa “( Bùi Giáng ) . Bùi Giáng đối lập mình với Mã Giám Sinh , từ đó  đặt mình trong tương quan với Nguyễn Du.  Câu thơ Nguyễn Du là câu thơ tả thực nói cái đời thường , quê quán , tuổi tác , gia cảnh .Câu thơ Bùi Giáng ngược lại, dẫn người đọc vào trường ngôn ngữ nghệ thuật đòi sự  cảm nhận lãng mạn. Cái hay cuả đoạn thơ còn ở chỗ Bùi Giáng làm thay đổi đột ngột cách tư duy cuả người đọc. Đang từ kiểu tư duy hình tượng với biển xanh dâu , đột ngột đổi sang kiểu tư duy cụ thể đo đếm,  một,  hai , ba , rồi tức khắc chuyển sang  tư duy triết học với những “ diệu tưởng , nghi tâm “ . Tư duy logic cuả người đọc bị lật nhào , đoạn thơ   mở ra chiều tư tưởng , buộc người đọc phải thoát ra khỏi câu chữ  để nhìn bằng cái tâm không sai biệt. Tiến trình đọc như vậy tạo ra khoái cảm thẩm mỹ .Người đọc có thể không hiểu câu chữ Bùi Giáng vẫn cảm nhận được cái hay cuả thơ ông là vậy.

 

            Nói thơ Bùi Giáng là thơ tư tưởng thì giá trị thơ Bùi Giáng cũng là giá trị cuả chính tư tưởng ấy . Vậy tư tưởng thơ Bùi Giáng là gì ? Ở trên  tôi đã nhận ra tư tưởng cuả kinh Kim Cang , kinh Hoa Nghiêm , tư tưởng Thiền trong thơ Bùi Giáng , nhưng còn một thế giới tư tưởng khác  trong thơ Bùi Giáng là thế giới tư tưởng Nguyễn Du :  biển xanh dâu , đoạn trường ,  phong vận , lầu xanh , cát lầm , bụi hồng , hùm thiêng ( thân phận Từ Hải ) , Đạm Tiên , Từ Hải …Bùi Giáng mượn thế giới tư tưởng nghệ thuật ấy để thể hiện tâm hồn mình

 

Thưa rằng bạc mệnh xin kham
Giờ vui bất tuyệt xin làm cỏ cây

                                   ( Chào Nguyên Xuân )

Tồn sinh quá khứ chôn vùi
Cơn say suốt kiếp - trận cười thâu canh

                                    ( Gõ Cưả Tồn Sinh )

Hùm thiêng chắp nối của tin
Cho người thổn thức cầu xin đá vàng

                                     ( Mười Hai Con Mắt )

Tuyệt mù biển cạn sông sâu
Bụi hồng tản mác trước sau bây giờ
                                      ( Ông Điên )

Cô đơn chứa đựng đầy miền
Cảo thơm tiền kiếp qủa nhiên bây giờ .

                                      ( Quanh Co )

Mặc người
mưa Sở mây Tần
Riêng mình
gìn giữ
một lần đầu tiên

                           ( Riêng Mình )
Dấu bèo phong vận nín thinh
Sóng phơi trường mộng bình minh vô thường
Nắng hồng chiếu bóng đài gương
Lời nghi hoặc hỏi đoạn trường từ đâu
                                               (   Vẫn Là Là )

Sao bằng riêng một biên thuỳ
Cõi điên vũ trụ tuỳ nghi tung hoành
            ( Sao Bằng )

Lừng bay thân thế pha mù
Sương mây tuyết dậy thân bù cho thân

                   (Đạm Tiên)

Nhưng thơ Bùi Giáng không chỉ có ngần ấy tư tưởng. Những hệ tư tưởng ấy chưa đủ để ông giải quyết những vấn đề cuả hiện hữu và  cũng không giúp ông nói hết sự trải nghiệm hiện sinh cuả mình , bởi cuộc đời ông , thời đại ông và tư tưởng cuả ông  khác rất xa với quá khứ . Ông tìm đến một cách thể hiện khác , đó là thái độ “ điên “ . Thiền thọai kể lại nhiều hành vi cuả các Thiền sư mà nếu nhìn bằng con mắt bình thường ta có thể sẽ thốt lên rằng “ điên thật ! điên thật !“, chẳng hạn : có một thượng tọa tên là Định hỏi sư Lâm Tế  về đại nghĩa pháp Phật . Sư bước xuống ghế rơm, nắm lấy Định , xáng cho một bạt tai, rồi xô ra. Định choáng váng chưa biết phải làm gì . Một ông tăng đứng bên bảo Định sao không lạy Sư đi. Định toan lạy thì ngay lúc ấy hốt nhiên ngộ đạo. Sau đó,  Định qua cầu gặp ba ông tọa chủ. Một ông hỏi Định : tôi nghe nói dòng thiền sâu thẳm phải dò đến đáy, thế nghĩa là gì ?”.  Định bèn nắm lấy người ấy , toan ném xuống sông ( dẫn theo Suzuki ) . Thiền Uyển Tập Anh kể lại : Thiền sư Đại Xả (1120-1180)  thường xoã tóc , quên ăn, không ở hẳn một nơi nào . Ngày 5 tháng 2 năm Trinh Phù thứ 5 , sau khi  dặn dò đệ tử , sư đọc bài kệ , đến canh năm hôm ấy sư uống thuốc độc mà qua đời .( Thế có là điên hay không ? )

Phải chăng Điên là một cách hành Thiền cuả Bùi Giáng ? và Điên cũng là cách  né tránh đối diện với thực tại , thực tại thời chiến tranh Việt Nam , trước và sau 1975 ? Ta không thấy Bùi Giáng bày tỏ bất cứ chính kiến nào về thực tại đó như thơ văn đương thời . Bài thơ Về Quảng Nam được viết bằng ngôn ngữ đời thường thể hiện rõ thái độ né tránh ấy :

Chiêm bao tôi thấy tôi về Quảng Nam
Rong chơi Đại Lộc, Điện Bàng
Duy Xuyên, Tiên Phước, Hoà Vang, Thăng Bình...

Tìm người bạn cũ không ra
Còn phong cảnh cũ khác xa những ngày...

Xóm làng đồng ruộng lạ thay
Chỉ còn dáng núi chạy dài xa xa
Giữ nguyên hình ảnh đậm đà
Còn trong kỷ niệm bao la tuổi nào...

Ngắm nhìn. Tim máu xôn xao
Tôi rời đất Quảng trở vào Miền nam
Tâm hồn bao xiết hoang mang
Bài thơ viết vội, dở dang lạ lùng
                                                1995

Ta chỉ thấy thấp thoáng tâm hồn Bùi Giáng xiết bao hoang mang , xôn xao ,  dở dang trước thực tại đã thay đổi lạ lùng .Bùi Giáng không lộ ra bất cứ một phản ứng  chinh trị xã hội nào.Thái độ này chẳng khác gì Nguyễn Du lúc sinh thời. Nguyễn Du sống im lặng ,  dấu kín tư tưởng cuả mình với thực tại thời Gia Long  . Nhiều bài thơ cuả Nguyễn Du mượn đề tài Trung Quốc . Thật khó tìm thấy hình ảnh đời sống thật cuả xã hội Việt Nam và thái độ cuả Nguyễn Du trong thơ ông. Thái độ cuả Bùi Giáng với Nguyễn Huệ ( bài Nguyễn Huệ ) cũng gần như thái độ Nguyễn Du với Từ Hải , mà có ý kiến cho rằng Từ Hải là hình bóng Nguyễn Huệ.  Và , phải chăng thái độ cuả Bùi Giáng cũng là thái độ “ giả cuồng “ cuả Nguyễn Gia Thiều trước thời cuộc ? Nguyễn Huệ ra Bắc 1786 , Nguyễn Gia Thiều lẩn trốn ở núi rừng . Khi không còn trốn tránh được , ông trở lại Thăng Long uống rượu , giả cuồng , bất hợp tác với Tây Sơn.

Bùi Giáng ý thức rõ việc lúc nào điên , lúc nào tỉnh , ông cũng ý thức rõ người đời hoài nghi về thái độ “ giả cuồng “ ấy  cuả ông

 

Uống và say nói lăng nhăng
Miệng mồm lý nhý thằn lằn đứt đuôi

                            ( Người Điên Uống Rượu )

Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe người khóc có ngờ chi không.

                                                      ( Bao Giờ)

Tôi nằm ở giữa vườn cây
Tấm lòng men rượu từ nay chịu chừa
Điên cuồng nhảy múa sớm trưa
Từ nay chấm dứt - thượng thừa hoàng trang

          ( Cũng Là Như Thế )

 

            Uống rượu , điên cuồng nhảy muá , nói năng lí nhí , cười khóc bâng quơ ..Nếu nhìn ở hiện tượng ngôn ngữ thì đó là hành vi cuả người điên không còn ý thức , nhưng ở Bùi Giáng đó là một hành vi có ý thức , một thái độ chọn lưạ hiện sinh . Nhất định thái độ ấy phải xuất phát từ tư tưởng . Có thể là ông mắc phải  sai lầm nào đó trong đời , hay sai lầm cuả  những dấn thân “ tội lỗi “

 

Đời đã mất tự bao giờ giữa dạ
Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh

                                    ( Hư Vô Và Vĩnh Viễn )

Máu trong mình mòn ruỗng
Xương trong mình rã riêng
Anh đi về đô hội
Ngó phố thị mơ màng
Anh vùi thân trong tội lỗi
Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang

                                               (Bờ Luá )

            Cũng có thể đó là thái độ sống “ hồn nhiên “ cuả người “ đắc đạo “ .Người đời nhìn ông điên , nhưng , với ông , đó là tự do. Chữ  tự do hiểu theo tư tưởng Phật , không phải tự do chính trị . Tôi không nghĩ rằng “Anh càng lang thang, càng lên cơn điên dữ dội, càng điêu linh tàn tạ, nhưng cùng lúc anh đang đóng vai trò của một sứ đồ tự do, bản thân anh là một bài ca đầy cảm hứng cho nỗi khát khao tinh thần tự do của xã hội…. Anh tượng trưng cho sự "ngoài vòng cương tỏa" mà người văn nghệ chân chính nào cũng thèm muốn.” ( Phạm Xuân Đài ) . Thực ra đó là tinh thần “ Ưng vô sở trú ‘ cuả kinh Kim Cang , tinh thần tự do cuả Lâm Tế Nghĩa Huyền (? – 867 ) “…gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp La Hán hoặc họ hàng thân thiết, giết hết, chớ ngần ngại : đó là con đường độc nhất để giải thoát. Đừng để bất cứ ngoại vật nào trói buộc mình, hãy vượt lên, hãy bước qua, hãy tự do.”( Dẫn theo Suzuki )

 

Ngủ yên bên lá cỏ chiều
Giữa trời thu mỏng gió dìu mây trôi
Ngủ yên bên suối bên đồi
Bên rừng thu tạnh bên người xót xa
Cát lầm ngọc trắng ố hoa
Bên đời thổn thức thiết tha bên người
Ngủ yên cây cỏ ngậm ngùi
Một giờ yên ngủ lấp vùi trăm năm
Tỉnh ra tìm lại chỗ nằm
Chốn xa xôi ấy đêm rằm trăng soi

           ( Chuyện Chiêm Bao 17 )

 

            Bùi Giáng có thể ngủ yên bên cỏ , bên suối , bên đồi , bên rừng  để lấp vùi trăm năm , nhưng Bùi Giáng  không thể quên nguôi nỗi đau đời . Ông gắn bó  đá vàng bên đời buồn tủi , bên người xót xa , ông   thiết tha bên người với tất cả nỗi ngậm ngùi thổn thức  cuả cõi nhân sinh , và ông bỗng nhận ra mình lạc mất  trong chốn xa xối ấy ,  tỉnh ra đi tìm lại chính mình .

                                           
Trước khi về chín suối
Em xin gửi đá vàng
Của trăm năm buồn tủi
Về trở lại nhân gian

                                ( Trước Khi )

 

            Có thể nhận thấy sau Nguyễn Du , Nguyễn Gia Thiều , Cao Bá Quát , thì Bùi Giáng là người làm thơ tư tưởng  , và đưa thơ tư tưởng Việt Nam lên những bước phát triển mới . Điều này trở thành giá trị thơ Bùi Giáng , vì đương thời và cả  hiện nay , rất ít nhà thơ Việt Nam trở thành nhà thơ tư tưởng ( Có chăng là Phạm Thiên Thư , và hiện nay là Trần Ngọc Tuấn với tập thơ Gió Reo ). Tuy nhiên tư tưởng thơ Bùi Giáng không sánh được với tư tưởng thơ Nguyễn Du và Nguyễn Gia Thiều ở sự giác ngộ những trải nghiệm bể dâu , ở cái “ hùng tâm “ và thần lực cuả một hồn thơ mà ngòi bút có thể làm rung chuyển khắp cõi nhân gian như Không Lộ Thiền Sư  “Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.” ( Không Lộ - ?-1119 . Thiền Uyển Tập Anh )

 

 

 

4. Bùi Giáng có cách tân thơ không ?

 

            Bùi Giáng không có cách tân gì về thơ , ông chỉ kế thưà truyền thống và làm mới thơ bằng phong cách ngôn ngữ cuả mình.

 

            Về nghệ thuật và tư tưởng , thơ Bùi Giáng nằm trong  bầu khí tư tưởng và thế giới nghệ thuật cuả thơ cổ điển , cuả Nguyễn Du , tư tưởng Phật Giáo .

 

Thử xem xét  yếu tố thiên nhiên trong thơ Bùi Giáng , người đọc nhận ra ngay  chất cổ điển trong  

cách Bùi Giáng sử dụng những  chất liệu này . Thiên trong thơ Bùi Giáng rất ít khi là thiên nhiên đời thường cuả ca dao, đó là thiên nhiên khái niệm,  mang tính trí tuệ , tính tư tưởng cuả thơ Đường , nó cũng mang cái nhìn Hoa Nghiêm cuả Bùi Giáng trên hoa cỏ , sông núi , ruộng đồng,   gió trăng , mây nước. Thiên nhiên ấy cũng mang màu sắc Kiều cuả Nguyễn Du. Ta gặp nhiều hình ảnh này : chân trời rộng tênh , nguyệt tỏ bên thềm , biển cạn sông sâu , chiều xuân thơ mộng  , bình minh vô thường  , sương đầm lá ướt ,  vườn hiu hắt nguyệt hờn mây nhỏ lệ , gió núi trăng rừng , biển xanh dâu , cây cỏ ngậm ngùi  , trời thu , rừng thu  , mây trôi , bụi hồng ,   cát lầm  , nguyên khê , đầu núi , …và  dường như thấp thoáng Bùi Giáng  trong bài thơ này :                       

                                            Nhị cú tam niên đắc

                                            Nhất ngâm song lệ lưu

                                            Tri âm như bất thưởng

                                            Quy ngoạ cố sơn thu

                                                           ( Giả Đảo )

                                                                             [  Ba năm làm được hai câu thơ /mỗi lần ngâm lên hai hàng lệ chảy /

                                                                                                                       ( nếu )bạn tri âm mà không thưởng thức /

                                                                                                               ( ta sẽ)  về nằm trong  núi xưa ( với ) muà thu ]

 

Nằm giữa vườn cây nhớ bốn trời
Ba bề bảy ngõ nhớ muôn nơi
Tưởng chừng thiên hạ mênh mông quá
Mà thơ ta chỉ có vài lời
Tặng người người có nhận hay không
                          ( Cũng là như thế - Bùi Giáng )

 

Thơ Lục bát cuả Bùi Giáng cũng gần gũi như Lục bát cuả Đoạn Trường Tân Thanh , và gần như ca dao , có cả thơ đuà cợt kiểu ca dao ( Tuy Nhiên Em Có Mặc Quần , Lời Sơn Nữ )

 

           Nhiều bài thơ cuả Bùi Giáng có giọng thơ  cuả thơ Lãng Mạn 1930-1945 ( Ly Tao 1.Ly Tao III. .Màu Trời Đó …)  Cảm hứng chính cuả thơ Bùi Giáng là cảm hứng lãng mạn có màu sắc Thiền ( Chào Xuân Nguyên , Cỏ Hoa Hồn Du Mục , Dư Vang … )

 

          Bùi Giáng có rất ít bài thơ nói về thực tại bằng ngôn ngữ đời thường.( Không Đề - tặng nhạc sĩ Quốc Bảo ; Nguyễn Huệ , Về Quảng Nam , Em Mọi Ơi ) , ngay cả những bài  như thế cũng lãng đãng không khi lãng mạn  ( Oà Các Em , Nỗi Lòng Tô Vũ – kỷ niệm 15 năm chăn dê )

 

         Nhưng Bùi Giáng có phong cách ngôn ngữ riêng , người ta có thể nói đến kiểu ngôn ngữ Bùi Giáng . Ông sử dụng rất nhiều từ Hán Việt bên cạnh từ thuần Việt , đó là vốn từ Hán Việt cuả nhà Phật và cuả văn chương cổ điển , đồng thời ông tạo nên những từ lạ so với vốn từ đã quen dung . Nhiều bài , từ Hán Việt  dày đặc đến nỗi trở nên rất khó đối với độc giả bình thường

 

  Em từ non nước Viễn Khơi

  Trùng lai cố quận chịu chơi một lần

                                                                                        (  Em Từ )

Thiệt thòi đời mộng phiêu linh
Cành sương ngọc thụ tồn sinh cát lầm
Giấc quày quả lạnh anh trâm
Bóng đu sung rớt bến trầm luân sâu
Hoài mong hiu hắt nhịp cầu
Mà hương quan vắng xa màu mây trôi.

                                  ( Muà Phượng Cũ. )

 

                   Điều này giải thích tại sao thơ Bùi Giáng khó hiểu . Bùi Giáng cố ý dùng  nhiều từ Hán Việt trong một cấu trúc ngữ pháp đã bị xáo trộn so với cấu trúc bình thường  để tạo nên “ mật ngữ “ cuả riêng ông  . Có điều lạ là tuy có nhiều từ Hán Việt nhưng thơ ông không hề cổ điển , có lẽ vì ông khai thác thi tứ , đề tài , chất liệu và tạo ra trường nghiã mới so với thơ cổ điển chăng. Cách dùng chữ Hán Việt cuả Bùi Giáng rất khác Nguyễn Du.  Trong  Đoạn Trường Tân Thanh ,  Nguyễn Du đặt từ Hán Việt bên cạnh những từ thuần Việt sao cho người đọc dù không biết chữ Hán vẫn có thể cảm hiểu được thơ .

 

“ Song sa vò võ phương trời

   Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng “ ( Nguyễn Du )

 

Thiên hương quốc sắc lạ thay
Một tòa sẵn đúc dày dày thiên nhiên
Khiến đời tứ đảo tam điên
Cuồng quay đảo phụng cường kiên điên hoàng
                         ( Gà Gáy Sáng – Bùi Giáng )

                        Với Bùi Giáng , làm thơ như một trò nghịch ngợm chữ nghiã cuả một con người tài hoa. Trong đoạn thơ trên , rõ ràng có bàn tay nghịch ngợm rất mực tài hoa cuả Bùi Giáng. Câu thơ Kiều

 “ Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên “ đã được Bùi Giáng viết lại “ Một toà sẵn đúc dày dày thiên nhiên “ và câu thơ “ cuồng quay đảo phụng cường kiên điên hoàng “ , xáo trộn nghịch ngợm triệt để những từ Hán Việt  ,  ngữ nghiã trở nên xa lạ không sao hiểu được . Có thể  sắp xếp lại theo cấu trúc thông thường  : phụng hoàng kiên cường quay cuồng điên đảo . Tất nhiên  như thế không còn là thơ Bùi Giáng , và ngay cả khi đã xắp lại như thế , vẫn khó tìm ra một  cấu trúc thực sự hợp lý để hiểu ý thơ.  Mật ngữ cuả Bùi Giáng là ở đó . Thực ra Bùi Giáng có  thể viết những câu thơ thật thà hiền lành thế này:

Chiều nay anh làm thơ
Chẳng còn hay như trước
Suốt một tháng
Viết không được một câu
Thì lấy đâu ra thơ
Mà tặng em cho được
Tặng một câu cũng chưa đủ
Thì lấy đâu bốn câu
Cho đủ một bài.   ( Em Mọi Ơi )

 

                    Bùi Giáng là một phong cách đặc sắc ,  nếu  chỉ viết như thế sẽ chẳng bao giờ có thơ Bùi Giáng để người đọc ái mộ.

 

Phong cách thơ Bùi Giáng  trước hết thể hiện ở trò chơi ngôn ngữ thách đố người đọc

như trong trò chơi ú tim . Bùi Giáng có khả năng biến hoá ngôn ngữ một cách tài hoa . Tôi không nghĩ đó là thi pháp , mà chỉ là sự tài hoa cuả ngòi bút , cuả cá tính sáng tạo .Thi pháp thơ Bùi Giáng nằm trong thi pháp thơ cổ điển và thơ Lãng Mạn . Bùi Giáng chưa vượt ra ngoài cõi thi pháp ấy.

 

Nguyễn Hưng Quốc coi những kiểu chơi chữ cuả Bùi Giáng như là thi pháp , điều ấy có

 đi xa quá chăng ?. Ông nhận định :  “ Tôi cho đây là đặc điểm nổi bật nhất trong phong cách thơ Bùi Giáng: thơ Bùi Giáng chính là sự xoá nhoà của mọi đường biên quen thuộc vốn được mọi người chấp nhận như là một quy ước, một luật lệ trong văn học từ xưa đến nay… xoá nhoà những đường biên về giọng điệu., xoá nhoà ranh giới giữa truyền thống và hiện đại .., xoá nhoà ranh giới giữa cái gọi là thơ và cái gọi là phi thơ … ,  xoá nhoà giữa cái lý và cái phi lý..”  (  Cuộc Hoà Giải Vô tận – Trường Hợp Bùi Giáng ) .

 

Đúng là có những hiện tượng lẻ tẻ như vậy , nhưng không là chủ đạo cuả ngòi bút

Bùi Giáng ..Thơ ông  là thơ truyền thống , chủ yếu là Lục bát , thất ngôn cổ điển ( Chiêm Bao 7 , Chiêm Bao 4.. ) thơ 7 chữ . 8 chữ kiểu Thơ Mới ( Kể Chuyện , Giòng Sông ; Hư Vô và Vĩnh Viễn .. ) , lâu lâu ông đuà nghịch  một chút  , tạo ra một kiểu chơi chữ mới , thách đố ngôn từ , dẫn người đọc vào những miền xa lạ cuả tư duy , tạo ra sự thích thú , như kiểu làm thơ phá cách vậy thôi , đuà một chút thôi mà !

 

Phong cách Bùi Giáng toát ra từ thế giới nghệ thuật cuả cả bài thơ . Thơ Bùi Giáng là một thế giới riêng , thế giới thơ cổ điển cuả hôm nay .  Thế giới cuả nghệ thuật kết hợp với tư tưởng , cuả  tâm thức hiển hiện trong ý thức , cuả câu chữ thật nói lời  vô ngôn  , cuả sự trộn lẫn tài hoa và bi thương  , cuả thực tướng và hư huyễn , cuả những “ đổ lộn “, “ từ bỏ “  núi sông , thành luỹ , hiện hữu , thời gian , thành “ tiếng vàng vang vọng  “ xa lạ..Tiếng Việt trở nên sang trọng và phong phú vô cùng , câu thơ trùng trùng nghiã , chữ gọi chữ , chữ thai nghén nghiã mới , nghiã gọi tâm , tâm lay động  thái hư , vang vọng mãi vào vô biên . Bùi Giáng có nhiều bài thơ hay , không chỉ có câu thơ hay  .Điều đặc biệt là có thể nhặt ra những câu thơ hay , để riêng lẻ , câu thơ vẫn tồn tại độc lập như câu thơ Kiều .

 

Nghe trời đổ lộn nguyên khê
Tiếng vàng rụng rớt gieo về động xanh
Gót chân khơi rộng bóng cành
Nhịp vang đầu núi vọng thành lũy siêu
Thời gian chắc bước bên chiều
Khóc sông bến lạ mưa chiều sớm xuân
Cỏ hoa từ bỏ ruộng đồng
Hồn du mục cũ xa gần hử em

                       ( Cỏ Hoa Hồn Du Mục )

 

Những bài thơ như Cỏ Hoa Hồn Du Mục  trở nên mới lạ và làm nên phong cách Bùi

Giáng so với thơ đương thời . Tôi nghĩ rằng người đọc  có thể tìm thấy nhiều giá trị khác trong thơ ông nếu có được trình độ tư tưởng và khả năng vượt qua được kiểu ngôn ngữ  Bùi Giáng  : Một rừng dày đặc từ Hán Việt trộn lẫn với khẩu ngữ ,  nghịch ngợm , xáo trộn   , thành “ mật ngữ“ ,  thách đố năng lực tư duy , tạo ra thú vị.

“ Dù sao chăng nưã ,Bùi Giáng tạo được một mẫu ngông thời đại , sáng tạo một kiểu say

sưa , chán đời cuả thế kỷ XX , khác với Nguyễn Khuyến trong thế kỷ XIX và Tản Đà đầu thế kỷ XX “ ( T. Khuê –Tự  điển Văn Học bộ mới – Nxb Thế Giới 2004 ) .Đó là kết luận cuả Tự Điển Văn Học

 

Nếu Bùi Giáng đọc được nhận định như thế , có lẽ ông chỉ cười  , cái cười “ đười ươi “

nắm tay ngưả mặt nhìn “đười ươi “ , như ông đã cười khi gặp bà Khổng Tử ở Lục Tỉnh ( Đêm Lục Tỉnh )

  

                                                                                                                                       2007              


*******************************************                                                                     

 

(1) Thiền Luận - Daisetz Teitaro Suzuki   :

               Trường Thủy Từ Huyền hỏi Thiền sư Huệ Giác ở núi Lang Gia, : 

-          “Cái thanh tịnh bổn nhiên nhân sao bỗng dưng sanh núi sông thế giới?”

             ( Thanh tịnh bổn nhiên vân hà hốt sanh sơn hà đại địa?)

             Câu hỏi mượn ở kinh Lăng Nghiêm, đoạn Phú Lâu Na hỏi Phật tại sao cái Chân Như Tuyệt Đối hốt nhiên hóa thành thế giới hiện tượng nầy .

 

(*) có thể giải thích cái điên cuả Bùi Giáng theo quan điểm cuả Trang Tử :

                   “ …Trong văn hóa Trung Hoa người ta thường thấy hiện tượng lạ lùng này là bậc đại trí phát sinh lòng hoài nghi đối với mình và cho rằng vũ khí tốt nhất trong cuộc tranh đấu trên đời là sự tôn sùng ngu độn và sự ẩn dật. Từ cái thuyết "khí trí" của Trang Tử  đến sự tôn sùng kẻ ngu chỉ có một bước ngắn; và trong văn chương cùng hội họa của Trung Hoa ta thấy hình ảnh của nhiều người hành khất, nhiều nhà ẩn dật bất hủ, nhiều nhà sư điên, hoặc những đạo sĩ kỳ dị, như trong tập "Minh Liêu tử du"..


..Kẻ ngu được hoan nghênh, đó là một sự thực không chối cãi được. …Trong lịch sử Trung Hoa có nhiều người điên, hoặc điên thật hoặc giả điên mà được nổi danh, được người ta kính yêu. Như họa sĩ Mễ Phí, có lần bận lễ phục tới lạy một phiến đá, gọi phiến đá đó là "ông Nhạc", vì vậy mà có danh hiệu là ông Mễ Điên. Ông ta với Nghê Vân Lâm, một họa sĩ danh tiếng đời Nguyên đều mê sự sạch sẽ. Lại như thi sĩ điên nổi danh, hòa thượng Hà Sơn, đầu bù, chân không, đi lại các ngôi chùa, làm mọi việc lặt vặt trong cái nhà khói (nhà bếp của chùa), xin cơm thừa căn cặn mà ăn và làm được những bài thơ bất hủ viết lên tường các nhà khói. Vị hòa thượng điên được người Trung Hoa ái mộ nhất là hòa thượng Tế Điên., cũng gọi là Tế Công (ông Tế); đời ông sau được người ta chép thành một chuyện dài gấp ba bộ Don Quichotte mà vẫn chưa hết. Ông sống một đời ma thuật, làm thuốc, say rượu, và như có thần lực, có thể cùng một lúc xuất hiện ở hai nơi cách nhau cả trăm dặm. Miếu thờ ông hiện nay ở Hổ Bào, trên bờ Tây Tử Hồ ở Hàng Châu. Những thiên tài lãng mạn, vĩ đại, thế kỷ mười sáu và mười bảy, như Từ Văn Trường, Lý Trác Ngô, Kim Thánh Thán (ông này tự đặt tên hiệu là Thánh thán (nghĩa là tiếng thở dài của Thánh) là vì, theo ông, đúng lúc ông sanh ra đời, ở miếu thờ Khổng Tử trong làng bỗng phát ra một tiếng thở dài bí mật). Tuy các vị đó cũng là những người bình thường như chúng ta nhưng bề ngoài có những cử chỉ trái hẳn thói thường, cho nên người đời gọi là cuồng. “ (
Lâm Ngữ Đường- Một Quan Niệm Về Sống Đẹp - The Importance Of Living. Nguyễn Hiến Lê dịch )



Nguồn : CHÚT TÌNH TRI ÂM-Bùi Công Thuấn. Nxb Hội Nhà Văn 2009


Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

HẠNH-truyện ngắn


HẠNH- truyện ngắn của Bùi Công Thuấn

( Đã đăng trên báo VAN NGHỆ  Hội Nhà Văn Viêt Nam
Số 16 , năm thứ 56 , ngày 17/04/2004 )

Chân dung Bùi Công Thuấn 2013
                                                                                                                             

                        Tôi dừng xe đổ xăng ở một cây xăng bên đường .  Một chiếc Camry đời mới đậu ở gần đấy.Tôi thoáng nhìn . Bóng một ngưởi phụ nữ cầm tay lái thấp thóang sau tấm chính chắn cửa. Tôi vờ như không để ý, mặc dù tôi rất thích hình ảnh một phụ nữ đẹp lái xe con , trông thanh lịch và quý phái .Trong thẳm sâu tâm thức của mình ,  xưa nay , tôi luôn kiếm tìm sự quý phái  , nhưng chỉ thấy sự bầy hầy , tạp nhạp,  lòe lẹt ,  giả dối ; còn lại là  sự lam lũ ,  khốn khó . Cánh cửa xe mở , người  phụ nữ khoảng 40 tuổi xuống xe , đi về phía tôi

            _ Em chào thầy . Thầy còn nhớ em không?

Tôi ngẩn người một chutù. Bộ nhớ vận hành rất nhanh , khuôn mặt motä cô học trò tôi không thể quên

            _ Lâu lắm thầy không gặp ?

            _ Thầy vẫn còn nhớ tên em ?

Nhận ra người nhưng tôi chưa kịp nhớ tên , quả là một thách thức.Tôi dạy học mấy chục năm trơiø , bao nhiêu thế hệ học trò đi qua , làm sao có thể nhớ hết , chỉ trừ những trường hợp thật ấn tượng.Với cô học trò này không thể quên

            _ Quên làm sao được cô  Hạnh !

Niềm hân hoan hiện trên ánh mắt Hạnh . Cô không ngờ tôi  vẫn còn nhớ tên người học trò năm xưa . Hạnh mỉm cười rất dịu ,  vẫn  như ngày nào. Hạnh cười cả khuôn mặt và ánh mắt lóng lánh .

_ Trước đây  em ở Nhật mà ! Em về Việt Nam chơi hay làm ăn ?

            _ Em về làm ăn ở Việt Nam . Thầy có khoẻ không ?

            _  Hạnh thử nhận xét xem nào

            _ Thầy hơi gầy hơn trước , già đi nhiều.Tóc thầy bạc nhiều quá.

Tôi hơi ngậm ngùi một chút về sự tàn phai và về cái sự thật rằng, thời gian có thễ làm cho bao mầm ươm vươn lên , chữa lành bao vết tương , nhưng cũng chôn vùi  bao kiếp con người .

            _ Từ năm 79 đến nay , 22 năm rồi , làm sao còn trẻ được, nhưng trông còn      được không ?

            _ Thầy vẫn phong độ như xưa!

                        Cả hai thầy trò cùng cười.Tôi biết đó chỉ là một câu xã giao khôi hài. Tôi nhìn trong xe có ý tò mò xem có ông xã hay người thân nào của Hạnh không . Xe trống không . Hạnh đi một mình , tôi dò hỏi :

            _ Tài xế đâu mà em lái xe ?

            _ Em tự lái lấy. Em thích thoải mái.

            _ Còn ông xã?

            _ Có cũng như không. Ngày xưa thầy nhận xét về em , em nghiệm lại thấy không sai điều gì ? Lúc nào rãnh thầy ghé em chơi. Em mới xây nhà cho mẹ em. Về Việt Nam làm ăn , em sống với mẹ , để an ủi bà cụ một chút.

Hạnh bắt tay tôi thật chặt rồi xin phép đi .Cô đang có hẹn. Tôi tạm biệt . Nói chuyện với phụ nữ ở ngòai đường không tiện , không khéo lại có người dị nghị.Thầy giáo phải giữ gìn kiêng khem như thầy tu.Tôi nghĩ vậy.

Chiếc Camry nghiến sỏi trên sân rồi bay đi.Tôi nhìn theo bâng khuâng. Cuộc đời ! Không thể ngờ được. Mấy chục năm thầy vẫn cọc cạch chiếc xe cũ còn trò thì xe đời mới. Cái giá trị cuộc đời là gì ? Hiển nhiên chiếc xe cọc cạch của tôi không sánh được với chiếc Camry mấy trăm triệu đồng của Hạnh, và dĩ nhiên , anh ngồi xe hơi sẽ nhìn anh đi xe đạp bằng nửa con mắt  ,nếu không nói là khinh thường.Tôi cũng đã có lúc được ngồi ké xe con máy lạnh, bỗng dưng mình thâùy mình sang trọng hẳn lên, bỗng dưng cái mặt mình cứ vênh lên , coi thiên hạ nhỏ như con kiến.Nghĩ vậy , tôi tự hỏi , không biết Hạnh nghĩ gì về tôi. Hình ảnh ông thầy ngày xưa có còn trong mắt Hạnh hôm nay.Xem ra Hạnh chân tình  và quý mên tôi thực lòng, nều không Hạnh cứ giả lơ không biết và vù xe đi , nào có bận tâm làm gì.

 

                                                *               *                  *

 

Đó là một vila cỡ nhỏ trong một khu vườn xanh tươi. Hạnh dẫn tôi đi giới thiệu một vòng  . Không thiếu tiện nghi gì. Nhà kiểu Pháp vừa sang vừa lịch sự và thân thiện .Tôi hơi  choáng vì sự sang trọng của căn  nhà.Tất cả đều hàng ngoại  cao cấp. Căn nhà ấy tôi chỉ được thấy trong phim ảnh .Bất giác căn nhà chị Dậu của tôi hiện ra , Tôi thấy mình nhỏ nhoi trong sự nghèo nàn kinh niên của bao nhiêu đời. Những kẻ nghèo hèn chôn mình trong xó tối , có bao giờ dám mơ được bay trong sự sang trọng. Tôi phải nâng mình lên  .Dẫu sao tôi cũng là ông thầy ngày xưa của Hạnh  . Cái thanh bạch của những người thầy đời xưa không còn phù hợp với cuộc sống cuốn theo vật chất này nữa .Nghèo thì chúng khinh. Những ông thầy gầy gò , đạp xe đạp , cặm cụi đèn sách , sĩ diện hão,  giờ chỉ là con tép  trong con mắt khinh người của những kẻ có tiền . Đã có lần , một anh nhà giàu nói toang toang với tôi :

_ Con tôi năm nay cháu lên lớp Chín, Tôi nhờ thầy kèm giúp cho cháu môn Văn. Một tháng tôi gửi thầy ba trăm ngàn đồng. Chỗ anh em , cứ nói thẳng nói thật .Thầy cứ đến. Cháu có phòng riêng . Chúng tôi bận công ăn việc làm , trông nhờ vào các thầy. Thầy tính , tôi phải cho cháu học thêm năm môn. Mỗi môn ba trăm ngàn , riêng môn toán ông thầy đòi bốn trăm, vị chi một triệu sáu , còn tiền trường , tiền sách vở và các khoản vui chơi của cháu , mỗi tháng tôi cứ để sẵn cho cháu ba triệu

Tôi nhẩm tính , lương thầy giáo một tháng các khoản chừng sáu trăm, nhưng một đứa học trò lớp chín được bố mẹ chi cho 3 triệu , thành ra họ tưởng rằng ba trăm ngàn trả cho một ông thầy là có thể mua được ông thầy . Dù nghèo , tôi cũng không thể bán mình làm tôi vì tiền. Coi thường nhau quá vậy ? tôi từ chối thẳng.

_ Cám ơn bác có nhã ý. Thực sự tôi rất bận , không giúp cháu được.

Hắn nói vuốt đuôi :

_Tiếc quá , cháu chỉ ao ước được học thầy .Nó bảo với tôi , thầy dạy hay lắm . Đành vậy , hẹn thầy  khi cháu lên cấp 3 , nhất định thầy phải giúp tôi đấy nhá.

Nghĩ đến cung cách của những kẻ giàu có hơm hĩnh , tôi phải tự điều chỉnh phong độ. Tôi đang ngồi trong một căn nhà sang trọng.Biết đâu Hạnh lại không nhìn tôi như vậy.

Hạnh mang ra một chai rượu Tây

_Thầy dùng với em một chút .

 Hạnh rót ra hai  ly nhỏ. Rượu ánh lên màu nho và thoảng hương thơm. Hình như trong ly rượu có cả sự chân thành và nồng nàn của Hạnh .Tôi cười

_ Em mở làm gì , phí cả chai rượi đi , Cho thầy ly nước lọc là đủ rồi .

Tôi giật mình về câu nói của mình,  rặt một giọng nông dân như anh Dậu . Dù sao , chai rượu kia bằng tiền một tháng lương của tôi , tiếc quá.

_ Có gì đâu phí thầy. Em uống thứ này quen rôi. Ở Nhật  có khi rất lạnh , em thường uống một ly cho lòng đỡ hoang vắng. Rượi làm ấm người , nhưng cũng làm tâm hồn em lãng mạn được một chút . Cuộc sống khô khốc quá, Em thường uống rượu một mình, chung quanh chẳng ai thân thích cả. Những lúc ấy em thèm về Việt nam , thèm được sống lại những ngày xưa . Giờ được gặp lại thầy thế này , thầy có biết là em vui thế nào không,? Rất tiếc em không còn bé bỏng như ngày xưa. Xin cụng ly với thầy , chúc thầy sức khoẻ . Em thấy thầy vẫn như ngày nào .

 Cái cách nói chuyện của Hạnh vẫn quyễn rũ.  Giọng nói dịu nhẹ , chân thành và mơ mộng , gần gũi và nồng nàn , lúc nào cũng cần sự chia xẻ , lúc nào cũng muốn trở nên bé nhỏ , muốn được yêu thương .

_ Thầy kể cho em nghe về thầy đi ?

_ Thầy thích nghe chuyện của em hơn . Chuyện bên Tây bên Nhật nó hấp dẫn hơn. Cuộc đời thầy giáo , em biết rồi mà ? người ta bảo , giáo chức thì “ giức cháo “ , thầy giáo thì “tháo giày” lội chân đất , Sư phạm thì  “ ăn như sư , ở như phạm ..” , mấy chục năm rồi vẫn thế?

Hạnh cười ngất :

_ Thầy khéo khôi hài .Cứ giả như sự thật là vậy ,thế sao thầy sống được ?

_ Thầy cô giáo là thánh mà. Không cần phải ăn , chỉ  uồng nước mưa thôi, uống nước mưa mà rao giảng những tín điều . Có vậy nó mới linh .Trong đầu óc người ta , thầy giáo phải nghèo mới là thầy giáo.Thầy giáo mà bụng bự thì không còn là người giáo viên nhân dân nữa , đó là những anh áp phe.Thế nên thầy cốâ giữ vòng eo cho đừng nở ra , cố giữ lấy cái xe đạp cọc cạch , để giữ lấy sự trong sạch ngây ngô của mình. Khối anh cán bộ ở nhà lầu , đi xe con , nhưng khi đến trường gặp gỡ thầy cô , cũng ăn mặc tềnh tòang cho nó có tác phong quần chúng.

Aïnh trố mắt nhìn , ngỡ điều tôi nói là thật :

_ Em thấy bây giờ ở Việt Nam nhiều người đi xe con lắm.Nhà cao tầng mọc lên như nấm sau mưa.Nhà hàng , chỗ ăn chơi lúc nào cũng đông nghịt, lại có cả khu cờ bạc ở Đồ sơn nữa.Dân mình giàu thế em nghĩ thầy giáo cũng phải khá chứ. “ Muốn con hay chữ  “ thì phụ huynh phải “ bắc cầu kiều “ và “ yêu lấy thầy”  , em nghe nói “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu “ mà?

Tôi hơi ngạc nhiên :

_ Hạnh cũng rành  Việt nam dữ ha ! Dường như  Hạnh  cũng là một trong những người thích đùa cùa Aditnêxin nữa.

Thầy trò cùng cười.

_ Thầy lại đùa, lại lảng tránh kể chuyện thầy cho em nghe rồi , sao thầy khôn quá vậy .Luôn luôn che dấu những ý nghĩ thật của mình.

_ Chuyện gì Hạnh cũng biết cả rồi .Chẳng có gì che dấu được dưới ánh mặt trời . Thầy mong Hạnh nghĩ về thầy như ngày xưa , nó đẹp hơn bây giờ ? cái thời thơ ngây lãng mạn nhìn cuộc đời nó đẹp hơn . Từ Thức từ giã cõi tiên về cõi trần  , bi đát lắm .

Hạnh tỏ ra hiểu :

_ Dường như thầy là Từ Thức ở trong mộng của em . Giờ gặp thầy em ước gì được sống trong không gian xanh ngát của tuổi học trò . Lúc ấy ,  thầy còn rất trẻ.

 

 

                        *              *                   *

 

 Hạnh học lớp 12  năm 1979 .Tôi là giáo viên dạy Văn.  Hạnh rất gần gũi với tôi .Cũng dễ hiểu thôi. Hạnh học Văn rất khá, lại trong ban văn nghệ của trường , tính tình chân thật dịu dàng. Mọi việc của lớp  , Hạnh làm rất tốt .Hạnh nhiệt tình  và  có trách nhiệm.

 Hạnh có cảm tình với Tuấn ,  một bạn trai trong lớp , nhưng Hạnh không để lộ ra bên ngoài điều gì .Tôi luôn nhắc Hạnh phải lo học đã, đừng để chuyện tình cảm ảnh hưởng  .Hai đứa thường đi học chung ,t rình diễn chung những tiết mục văn nghệ , chia xẻ trách nhiệm những công việc lơpù  giao , có vẻ tâm đầu ý hợp. Tôi cũng thầm cầu chúc cho Hạnh được hạnh phúc như chính cái tên cha mẹ đã đặt . Cả lớp gần như đồng tình với mối quan hệ ấy. Chỉ một  vài bạn nữ eo xèo. Chuyện tình học trò thường nắng mưa bất chợt .Lâu lâu hai đứa lại mặt trăng mặt trời với nhau . Những lúc ấy Hạnh học xuống hẳn .Tôi hiểu tình yêu ở Hạnh là có thật .Xưa nay tôi vốn hoài nghi về những mối tình học trò , chẳng bao giờ trở thành tình yêu thật sự cả. Tuổi học trò đuổi bắt nhiều mộng đẹp quá, thế nên tình yêu cũng chỉ là một cuộc chơi cút bắt , chập chờn .Chàng yêu nàng nhưng nàng lại thích người khác , mà người khác lại săn đuổi người khác nữa. Rồi chia tay, chẳng còn lại gì khi giòng đời cuốn trôi mỗi con người đi mỗi nẻo  . Lúc gặp lại nhau thì tóc đã trắng phau , hoa đã tàn , chỉ còn ngậm ngùi .Nụ cười nhăn nheo.

 Kỳ thi Tú Tài  xong ,trường vừa nghỉ hè thì Hạnh tìm đến gặp tôi .Hạnh gầy hẳn đi .Khuôn mặt tối sầm lại.Mắt trũng sâu. Mái tóc che quá nửa khuôn mặt. Nét thống khổ làm cho Hạnh rũ xuống.Tôi không hiểu :

_ Có chuyện gì vậy Hạnh ?

Hạnh ngước nhìn tôi.Đôi mắt đầy bóng tối :

_ Em đau khổ quá thầy ơi ?

_ Gia đình có chuyện buồn à ?

_ Chuyện của em ?

_ Em vừa tốt nghiệp xong , vui mới phải sao lại buồn ?

_ Tuấn bỏ em đi rồi.Em không ngờ .

_ Tuấn đi bao giờ ?

_ Lần chia tay cuối năm . Tuấn biệt tích  . Em tìm khắp nơi không thấy .

_ Mùa hè , mỗi người một nơi , chuyện ấy là bình thường , có gì làm em đau khổ

_ Thầy biết em yêu Tuấn mà?

Hạnh kể cho tôi nghe đêm diễn văn nghệ 26/3 tại sân vận động , diễn xong hai đứa ở lại , ngồi với nhau thật  khuya trên bãi cỏ . Đến gần sáng Tuấn mới đưa Hạnh về . Hạnh thất thân với Tuấn đêm ấy .Hạnh bảo hai đứa yêu nhau thật lòng . Tuấn định học xong sẽ xin gia đình cưới Hạnh . Gia đình Tuấn sẽ xin việc cho Hạnh làm ở thành phố. Tuấn có ông bác làm chức vụ cao ở một cơ quan , xin việc dễ dàng .Hạnh tin ở Tuấn, chẳng giữ gìn điều gì . Ngày ra trường sẽ là ngày Hạnh với tay đến bến bờ hạnh phúc .

 Hạnh lấy khăn chùi nước mắt ngước nhìn tôi cầu cứu

_ Em phải làm sao bây giờ ?

_ Chẳng lẽ Tuấn lại xử tệ với em như vậy ?

_ Sự thật mà thầy ?Bây giờ em chỉ còn muốn chết thôi .Nhưng em thương mẹ em quá

_Đừng nghĩ dại .Thầy chia xẻ những nỗi thống khổ của em ,

Tôi nhìn thẳng vào khuôn mặt ướt sũng nước mắt của Hạnh :

_  Thầy nghĩ thế này .Tình yêu quý giá thật .Nó là chính trái tim của mình . Chẳng ai có thể rứt trái tim mình ra khỏi lồng ngực mà ném xuống vũng bùn. Dẫu thế nào cũng phải giữ cho nó vẹn nguyên.Những gì không thuộc về mình thì không thể giữ được.Nói cho cùng thì ta chẳng thể giữ được bất cứ sự gì trên đời ngoại trừ trái tim mình , mình sẽ đem theo nó xuống mộ huyệt .Tuấn không xứng đáng với em , thì em hãy gạt Tuấn ra khỏi trái tim em . Cuộc sống còn bao nhiêu giá trị tốt đẹp , đâu chỉ có tình yêu .Xung quanh em còn bao người quý mến em , em đâu có đơn độc. Em vẫn là nguồn an ủi của mẹ .Em thử nghĩ xem , nếu mẹ biết em nghĩ dại , mẹ sẽ buồn đau thế nào ? .Dù hoàn cảnh có  thế nào cũng phải sống mạnh mẽ .Vấp ngã thì đứng lên , có sao đâu . xung quanh mình có nhiều người vấp ngã.Thành bại là chuyện thường tình xưa nay .Có vậy con người mới trưởng thành lên được . Em xem đó , xung quang mình còn bao nhiêu người khốn khổ hơn thầy trò mình , nhưng mà họ vẫn sống vui vẻ . Đời sống là quý giá nhất . Quý giá hơn nữa là giá trị mỗi con ngưởi trong cuộc đời này.Em có giá trị của em, Em có thể đem đến nhiều giá trị tốt đẹp cho mọi người. Hãy bước qua vưcï thẳm , vui vẻ lên mà sống.

 Hạnh gục xuống nức nở. Tôi để yên cho Hạnh tắm gội trái tim mình bằng nước mắt. Trái tim ấy sẽ trong trẻo và tinh ròng, sẽ không còn những vết đen bầm ứa máu, có vậy Hạnh mới vực dậy được.

Hạnh ngước mắt nhìn tôi. Aùnh mắt có vơi bớt bóng tối :

_ Em cám ơn thầy đã không trách mắng em .

_ Thầy đã đi qua thời  trẻ như em. Bỏ qua quá khứ đi .

_Em sẽ nghe lời thầy . Nhưng thầy bảo em làm gì bây giờ ?

_ Hoặc tiếp tục đi học , hoặc tìm một việc gì đó để làm, vừa kiếm sống vừa giúp má. Lúc nào đuối sức , cứ tìm bạn bè thầy cô trò truyện , rồi thời gian sẽ chữa lành mọi vết thương , dù đó là những vết thương  có làm thối rữa thân xác .

 Hạnh ra về  , dáng đi hiu hắt  . Mái tóc dài phủ kín cả người  trông có vẻ tang tóc .Hạnh đã mất tất cả. Lòng tin yêu bị đánh tráo bởi sự phản bội .Nỗi đau ấy không thể vơi cạn trong một sớm một chiều .Nỗi đau và sự  ê chề còn dày vò mãi . Âm thầm mà chịu đựng Hạnh ạ. Hãy sống cho mạnh mẽ . Ngước mặt lên mà bước đi , rồi em sẽ tìm thấy con đường có anh sáng. Tôi thầm nghĩ như vậy , dù biết rằng đó chỉ là những lời trong sách vở.

                                     *                *               *

Bẵng đi một thời gian , tôi gặp lại Hạnh. Khuôn mặt Hạnh có sáng hơn. Thầy trò lại tâm sự. Tôi biết tôi chỉ chia xẻ những nỗi đau âm thầm của Hạnh , với hy vọng giúp Hạnh nhẹ nhàng được một chút u uất , và may ra làm loé ra một chút ánh sáng cuối đường hầm số phận của Hạnh . Mỗi con người khi vào đời , là dấn thân vào con đường số mệnh của mình. Con đường ấy đã có sẵn .Chính mình sẽ để lại những dấu tích trên con đường ấy .Có lúc ta hoạch định rất kỹ cho một cuộc hành trình và tin rằng ta có thể vượt qua thung lũng mù mịt hay có thể trèo lên tận đỉnh núi cao của  tham vọng  .Nhưng khi đã vượt qua được những ảo tưởng, nhìn lại , ta thay mình vẫn chưa nhảy qua khỏi bàn tay số phận , như xưa kia Tôn Ngộ Không chẳng thể nào vượt qua bàn tay Như Lai , đành phải nằm chết dí dưới chân núi Ngũ Hành .Hãy ráng chờ đợ thời cơ đến Hạnh ạ. Tôi thầm nghĩ như vậy .

_ Thầy có khoẻ không

_ Cũng hơi xuống cấp rồi, trông ngoài thì phồn vinh vậy , nhưng là phồn vinh giả tạo đó .Còn hạnh , giờ sao rồi

_ Em đang làm ở chỗ đan lát mây tre?

_ Sống được không ?

_ Người ta làm hàng xuất khẩu, nếu mình chịu khó , làm được nhiều sản phảm thì cũng sống được.

_ Tâm hồn lúc này thế nào rồi ?

_ Em có chuyện định hỏi ý kiến của thầy ?Nhưng thầy phải nói thật lòng mới được , đừng vẽ ra những điều lãng mạn như ngày xưa , cái ngày nghe thầy nói , em thấy cuộc đời này cái gì cũng đẹp. Em đã xây bao mơ ước , nhưng mà ..

Con bé rào đón quá. Tôi không dám gợi lại những mất mát của Hạnh ,Nhưng nó có vẻ trưởng thành hơn ngày xưa.Nó đã hiểu ngày xưa , thầy cô toàn nói chuyện ảo tưởng với nó. Cuộc đời không đẹp , không thiện như thầy cô đã vẽ vời ra.Nó cũng hiểu rằng Thầy cô cũng chỉ sống trong nhưngõ ảo tưởng được người khác vẽ vời ra , hay có thể là chẳng bao giờ thầy cô nói thật , lúc nào cũng lãng mạn.Nhưng có thể nó không biết rằng , lãng mạn cũng là một cách sống , bởi vì cuộc sống thực đã quá nhọc nhằn rồi , không mơ mộng một chút thì làm sao sống được .Cũng phải tìm lấy những cái đẹp ngay trong  sự khốn khó để mà thấy cuộc đời này là chỗ để sống , không có cuộc đời nào khác ngoài cõi người này , dù cõi người có là nanh vuốt , máu tươi.. Cứ như ông Nam Cao , chỉ nói lên tiếng đau khổ của những kiếp lầm than ,  xung quanh chỉ thấy đói , thấy nhục , thấy chết chóc  , cắt cổ , ăn bã chó và giãy giụa dữ dội thì cuộc đời này bi đát quá. Ông Thạch Lam  hay ở chỗ là nhìn  ra cái đẹp ngay trong những  gì đơn sơ khó nghèo và tù đọng nhất .Có bao nhiêu người nghèo , họ vẫn vui vẻ sống. Mà dân mình đã nghèo mấy nghìn năm rồi, giờ vẫn còn xoá đói giảm nghèo . Hãy cứ lãng mạn mà sống Hạnh ạ.

_ Có chuyện gì vậy , chẳng lẽ chuyện quan trọng đến nỗi thầy không đủ sưcù nghe

_ Không phải vậy , nhưng mà em muốn nghe thầy nói thật cơ !

_ Được rồi , thầy sẽ nói thật những gì thầy biết .

_ Ở chỗ em làm , có một anh chàng rất thương em , anh ta có ý định đi đến hôn nhân với em , nhưng anh ta chưa biết gì về em , theo thầy em có nên nói hết sự thật cho anh ta biết không

Tôi khựng lại một chút. Quả là vấn đề nghiêm túc và rất khó có một giải pháp tốt đẹp:

_ Vấn đề là ở chỗ anh ta yêu em thế nào , tình yêu ấy có đủ sức giúp anh ta vượt qua những ích kỷ nhỏ nhen hay không. Thầy nói thật , đàn ông con trai , đứa nào cũng rất ích kỷ và ti tiện về những chuyện ấy .Lucù còn yêu thì mọi chuyện có thể  chấp nhận , nhưng những mặc cảm về sự thật của vợ mình sẽ là con dao đâm nát trái tim anh ta, rồi chính anh ta sẽ cầm con dao ấy đâm lại người yêu.Hôn nhân trở thành một cuộc tự sát tập thể.

Trong Mắt Hạnh tràn ngập bóng tối .Dường như Hạnh cố níu lấy một cành củi khô giữa giòng. Tôi biết rằng nói thật những điều như vậy , sẽ chỉ làm cho Hạnh đau đớn thôi , nhưng Hạnh yêu cầu mà . Tôi nhìn Hạnh

_ Nói vậy thôi , cũng tuỳ người , và còn xem gia đình anh ta nữa .

Hạnh tỏ ra hiểu biết người con trai :

_ Gia đình anh là người Bắc, một mẹ một con , bà cụ cũng hiền lành và có vẻ quý mến em .Em có đến chơi vài lần .Bà cụ bảo , trông em hiền lành , có phúc có phần.

Tôi không nghĩ như Hạnh  , nhưng lại sợ làm Hạnh thất vọng :

_ Em biết không , người Bắc khó lắm , chuyện dựngï vợ gả chồng cho con là chuyện hệ trọng .Thầy biết , không bao giờ các bà mẹ Bắc kỳ chấp nhận những chuyện như vậy đâu .

Hạnh lo lắng thực sự. Tôi hiểu Hạnh đang hy vọng :

_ Thầy bảo em phải làm sao

Tôi biết rằng chỉ có thời gian mới có câu trả lời đúng nhất. Mọi sự vồ vập , đều không tránh được ngộ nhận bi kịch .Có lẽ tôi hơi quá cẩn trọng.trong thâm tâm , tôi cũng biết , nhiều khi phải liều với số pận , mới mong thóat ra thế bí :

_ Cứ giữ ở mức tình bạn , không để anh ta biết điều gì về em cả, thà vậy , anh ta còn giữ được hình ảnh đẹp về em ở trong lòng , và mối quan hệ vẫn sẽ giúp em mau lành vết thương cũ.

_Nhưng mà chẳng lẽ em cứ phải đóng kịch với anh ta, với lại thời gian đối với em không còn nhiều , chẳng lẽ em cứ cô độc mãi

_ Cuộc đời đúng là một sân khấu , em thấy đó , mọi người đều phải diễn cái vai tuồng của mình , có ai sống thật đâu , ngay cả với chính mình , mình cũng tự dối mình thì thật với ai ? Em tưởng người ta đang sống thật chắc, không , người ta đang diễn cái vai tuồng mà ông trời bắt diễn, không cưỡng lại được.Kẻ tỉnh táo thì diễn thành hài kịch , kẻ u mê thì diễn thành bi kịch .Em không thấy trên sân khấu tuồng hay cải lương sao , lúc nào cũng có anh hề  bên cạnh những cảnh lâm ly. Hết hề , hết lâm ly là hết tuồng. Em cứ đợi đấy , rồi sẽ tới vai diễn của em .Tập dần đi là vừa. Em thất bại là vì em đã sống rất thật với trái tim mình , đúng không ?


Khuôn matë Hạnh  nhàu nát tệ hại.Có lẽ Hạnh không ngờ tôi lại nói với Hạnh những điều ấy , Tôi có làm Hạnh tuyệt vọng không . Tôi biết Hạnh đã đi đến tận cùng của thung lũng tuyệt vọng. Tôi không sợ Hạnh lạc mất trong thung lũng ấy . Hạnh làm tôi giựt mình

_ Sao hôm nay thầy bi quan thế, em có thấy thầy như vậy bao giờ đâu ?

_Thầy vẫn vậy . Có điều trước đây em mới chỉ nhì thấy thầy có một phía thôi . Ấy là thầy đóng kịch để nuôi dưỡng học trò trong những mộng đẹp ấy mà. Khi em vượt qua được cả bi với hài kịch , diễn đến tận cùng vai diễn của mình , em sẽ tìm thấy chân lý

_ Vậy thầy đã tìm thấy chân lý chưa?

_Chưa!

_ Thành ra thâøy đang nói dối em, vậy mà em cứ tưởng thầy nói thật .Em muốn hỏi thật thầy cơ mà !

Cả hai thầy trò cùng cười. Cười để khuây khoả nỗi ưu tư , Để gỡ cho ra cái mạng nhện đang quấn lấy số phận Hạnh . Tôi biết tôi bất lực trước những vấn đề Hạnh đặt ra.

                                     *               *              *

 Tôi được tin ,  Mẹ Hạnh lâm bịnh nặng, Hạnh phải nhờ vả nhiều người. Rồi chuyện phải đến đã đến. Một gia đình ở cùng xóm thường qua lại giúp mẹ Hạnh  . Lúc đầu , Hạnh nghĩ là tình lối xóm , sau Hạnh mới hiểu ra .Nhà họ có một  con trai. Họ đã chấm Hạnh. Họ khen Hạnh trước mặt mẹ Hạnh . Họ bảo Hạnh  được cả người , cả nết  .Mẹ Hạnh ốm là một dịp để người ta bày tỏ tình nghĩa muốn thông gia với mẹ  Hạnh . Khi mai mối  đặt lời  , bà cụ ưng thuận ngay . Bà cụ bảo

_ Người tốt là người giúp đỡ mình khi mình hoạn nạn . Mẹ thấy người ta giúp đỡ nhà mình thực lòng .Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống. Người ta tốt thì con người ta cũng tối . Cây nào quả đó .Con suy nghĩ kỹ đi. Đừng phụ lòng người ta

Hạnh ngập ngừng :

_Nhưng mà con không yêu con người ta

Bà cụ xác quyết :

_Chuyện vợ chồng , cần con người tình nghĩa.Yêu ! yêu! … con không thấy bao kẻ yêu khốn nạn hay sao .Vợ chồng một đời , trước lạ sau quen , cái tình đến sau cái nghĩa mới làcái tình thật. Con có thấy những cánh bướm chập chờn trên những đoá hoa không .Hời hợt và giả dối hết. Tình không nghĩa là thứ tình của những cánh bướm , Mẹ sợ còn tệ hơn thế kìa.-

 Những lời của mẹ làm tim Hạnh đau buốt . Nhưng đó là sự thật. Với mẹ thì đó là chân lý.Hạnh nhắm mắt lại . Bóng tối ! Bóng tối… Chẳng lẽ chân lý cũng là bóng tối. Hạnh mở mắt nhìn mẹ trân trân , nước mắt chảy xuống .Hạnh không lau nươc mắt dấu mẹ như trước đây .Mẹ không hiểu.


Thế rồi Hạnh lấy chồng .Hạnh nhắm mắt bước qua cuộc đời lần thứ hai với tất cả những mặc cảm tội lỗi .Bây giờ thì Hạnh trở thành kẻ lừa gạt .Hạnh lặp lại chính sự lừa gạt của Tuấn . Lừa gạt không chỉ chồng Hạnh mà cả người mẹ chồng rất quý rất thương Hạnh .Sự lừa gạt nào cũng sẽ bị lật tẩy . Nhưng mà , cũng giống như Hạnh , nỗi đau đớn và sự nhục nhã đã đè chết người chồng Hạnh. Anh ta không kêu lên được tiếng nào. Sự ti tiện , ích kỷ là con dao ngày ngày đâm vào tim anh ta .Anh ta uống rượu , giở say,  lấy cớ này , cớ kia chưi û Hạnh. Hạnh chỉ im lặng .Nhưng Hạnh càng im lặng , anh ta càng lên nước. Bây giờ , mỗi lời anh ta mở miệng, thì tiếng “ con đĩ “ , đồ đĩ’ văng ra trước. Anh ta không còn dấu diếm nỗi nhucï nhã của anh ta trước mọi người .Nhưng mọi người dường như không hiểu. Họ bảo anh ta là thằng chồng vũ phu. Vợ hiền lành như vậy là phúc đức mười đời cho nhà anh ta. Có vợ hiền không biết giữ thì có ngày. Con giun xéo lắm cũng oằn , huống gì là con người.Thế là anh chồng trở thành diễn viên hài , còn Hạnh là diễn viên bi kịch rất đạt.Người ta lên tiếng bênh vực Hạnh , bố mẹ chồng cũng che chở Hạnh, còn mẹ Hạnh chỉ đấm ngực ăn năn:

            _Thật mẹ không ngờ. Khổ thân con tôi quá. Cầu trời cầu phật cho thằng chồng nó biết nghĩ lại

Hạnh vẫn im lặng , không hé nửa lời với mẹ .Thân xác và tâm hồn Hạnh đã cứng đờ .Khi đau bị quá , người ta không còn thấy đau nữa . Hạnh gục xuống . Rồi lại vùng đứng dậy.Nhìn bốn phía , không có lối ra .Hạnh cũng không còn biết mình sống hay đã chết .

  Nhưng Hạnh thì vẫn sống , Chỉ có chồng Hạnh là chết. Có lẽ lần này anh ta chết thật , chấm dứt cái vai diễn  anh ta đang đóng trong vở kịch cuộc đời Hạnh .Một lần anh chồng say xỉn, buổi tối đi nhậu về , phóng xe Honda, tông phải con chó băng qua đường. Bệnh viện không cứu kịp .Chính Hạnh đã đẩy anh ta đến cái chết . Đứng bên mộ chồng , Hạnh âm thầm nói lời xin lỗi người đã khuất . Cám ơn anh ta, vì anh ta đã mang về bên kia thế giới cái góc khuất đời Hạnh mà bấy lâu nay Hạnh luôn che dấu .

 Nhưng Hạnh không thể sống được với những lời đinh óc của hàng xóm .Họ mơ hồ về con người Hạnh , Họ bảo chính Hạnh gây ra cái chết cho chồng . Họ xa lánh Hạnh những khi Hạnh đi qua mặt họ. Sau lưng Hạnh có cả lời nguyền rủa . Chỉ có hai bà mẹ là đau khổ . Vì họ thương con.

 Rồi Hạnh trở nên liều lĩnh . Thử liều với cuộc đời xem sao. Hạnh đã sống tử tế , sống chân thật , yêu thương , đã ẩn nhẫn hết sức mình , đã chịu đựng đến kiệt sức, nhưng số phận vẫn không khá hơn , tai kiếp và tai kiếp , vì đâu ? . Phải liều thôi ! Cứ liều đi , phải thách đố số phận , bắt số phận theo ta .Thế là Hạnh vượt biên .

Tôi cầu cho Hạnh đến được bến bờ bình yên .

                                     *               *             *

 Tôi nhận được thư Hạnh gửi từ Nhật .Tôi mừng cho Hạnh đã thoát được cái nôi của quỷ, hy vọng đời  Hạnh sẽ kháhơn chăng.

Hạnh viết , chỉ khi mình rời khỏi cái nôi mình đang sống mà dấn thân vào một nơi vô định , mình mới hiểu được những giá trị tốt đẹp của nó. Bây giờ Hạnh lại mất tất cả , sự tổn thất còn gấp nhiều lần trước đây . Trước đây Hạnh chỉ mất người yêu , mất người chồng , mất danh dự, nhưng Hạnh còn cha mẹ , còn người thân ấp ủ chở che ; còn thiên nhiên đất nước xanh tươi mà tung tăng , con đường chất ngất  kỷ niệm , ấm lòng những lúc cô đơn … Khi con thuyền lênh đênh giữa đại dương  mù khơi và đầy giông bão , Hạnh mới thấy con người thật nhỏ bé và yếu đuối .Hạnh đối diện với cái chết , chới với và cô độc .Hạnh thấy mình liều lĩnh dại dột.Nhưng không còn cách nào để quay trở lại . Đến ngày thứ ba con thuyền bị chết máy . Cũng là ngày thứ ba Hạnh rũ người , không còn gượng dậy được nữa. Sự sợ hãi và sóng đã làm cho Hạnh chìm vào cơn say vật vã, nôn ói đến mật xanh mật vàng. Hạnh chỉ còn lờ mờ những hình hài hư ão.Có một con tàu nhỏ áp sát con thuyền của Hạnh , có tiếng súng nổ, hai người đàn ông lái thuyền rơi xuống biển . Có mấy người nhảy sang thuyền của Hạnh . Chúng lấy đi tất cả đồ đạc và bắt đi các phụ nữ còn khoẻ mạnh. Hình như chúng có lôi chân Hạnh mấy lần, Hạnh mềm nhũn . Chúng vứt Hạnh xuống thuyền như vất motä xác chết . Lại có tiếng súng nổ.Chiếc tàu cướp ấy rẽ sóng biến vào sương mù của biển. Con thuyền của Hạnh chỉ còn là chiếc lá xoay mòng giữa biển . Khoảnh khắc sau đó , một chiếc tàu khác cặp sát chiếc thuyền của Hạnh .Đó là một chiếc thuyền Hải quân đi tuần . Họ đem những người còn sống sót lên tàu. Có hai người phụ nữ như Hạnh và mấy đứa nhỏ .Hai người đàn ông còn lại bị bọn cướp biển bắn vào chân giả chết nên thoát. Khi tỉnh dậy Hạnh mới biết mình còn sống sót .Kinh hoàng như chưa bao giờ kinh hoàng như thế. Sự tàn bạo của biển , sự tàn bạo của bọn cướp biển , là những điều chưa bao giờ Hạnh có thể tưởng tượng ra được. Hạnh hiểu hơn bao giờ hết sự mong manh bất lực cửa kiếp người .Sự sống quả thực quý giá.Những đau khổ mà Hạnh đã chịu trước kia đã được biển và sự tàn bạo của nó rũ sạch. Sống sót được là niềm hạnh phúc quá lớn  đối với Hạnh  , lần đầu tiên Hạnh cảm thấy hạnh phúc, và lần đầu tiên Hạnh cám ơn cha mẹ đã đặt cho mình cái tên có ý nghĩa là may mắn. Hạnh sống sót được là nhờ may mắn. Nếu Hạnh không bị say sóng gần chết thì giờ này không biết sẽ thế nào.Hạnh đã nghe những tin về bọn cướp biển bắt đàn bà phụ nữ hãm hiếp rồi bán vào nhà chứa , ở đó suốt đời làm nô lệ tình dục, có bọn mặt rô đầu đinh cai quản , chết rũ với sự ô nhục và bệnh hoạn. Nghĩ vậy Hạnh cám ơn trời Phật đã không để cho Hạnh lâm vào hoàn cảnh địa ngục ấy.Niềm tin chợt loé sáng trong tâm linh Hạnh.

Hạnh được đưa lên bờ , Đó là một hòn đảo ở ngoài khơi Thái bình dương gần với Nhật .Ở đây Hạnh  được chăm sóc y tế và được hưởng quy chế tị nạn nhân đạo . Hạnh xin sang Nhật. Hạnh tìm được việc làm ở một cửa hàng ăn uống của một người Việt.  Hạnh hiền lành thật thà lại chịu thương chịu khó nên rất được họ quý mến.

 Bây giờ Hạnh  đang sống một kiếp khác.Cái bản năng sinh tồn của một con người quả thực mạnh mẽ .Hạnh đã  cảm nghiện điều ấy ỡ những giây phút sống tưởng như là những giây phút sau cùng của đời mình . Tâm hồn Hạnh bừng tỉnh sau những  u mê  dài .Hạnh không còn là Hạnh của ngày xưa , đầy dẫy những mặc cảm tủi nhục .Những chuyện như thế chỉ còn là những trải nghiệm của thời trẻ con ,vô nghĩa .Ở đây chỉ có làm việc và làm việc, mọi người đều lao vào công việc với những ước mơ thăng tiến. Những chuyện tình cảm , những mối quan hệ không còn là vấn đề nặng nề . Ai cũng vui vẻ sống , họ sống hối hả, sinh động và vô tư .Hạnh cũng bị cuốn vào cái nhịp sống ấy. Hạnh học được nghề của nhà hàng, rồi Hạnh quen vài người Việt Nam khác , cùng với họ mở nhà hàng . Lúc đầu có chật vật , Nhưng vất vả và khó khăn nào có nghĩa gì đối với hạnh.Công việc dần dần ổn định . Hạnh thấy lòng mình  trong sáng. Nhiềâu người Việt đến đây ăn uống , Hạnh có dịp sống với hồn quê hương của mình trong những câu chuyện với khách .Ước mơ về Việt nam ngày càng hiện rõ trong tâm hồn Hạnh .

                                     *             *                   *

 Hạnh rót cho tôi một ly rượu nữa. Rượu Tây rất êm và thơm. Câu chuyện của hai thầy trò trở nên tự nhiên và ấm hơn .

_ Em có lập gia đình lại chưa ?

_Sao thầy lại hỏi em câu ấy ?

_Em còn rất trẻ , tươi sáng và đằm thắm hơn ngày xưa nhiều , lại là Việt kiều , khối ông giám đốc mơ ước

Hạnh nhoẻn cười. Ánh mắt như có nước , khuôn mặt rạng rỡ ,

_Em thấy có điều này thầy nói về em rất đúng. Thầy nhớ lại xem điều gì ?

Tôi cười :

_ Ngày xưa à? Thầy chỉ nói dối thôi ,

Hạnh nhìn tôi thật tin cẩn :

_Điều này thì thầy nói thật và nói đúng .Em đã diễn xong vai tuồng cả hài kịch và bi kịch , nói như thầy là em đã tìm được chân lý .

Tôi không nhớ đã nói gì trong bao điều thầy trò đã tâm sự :

_ Chuyện ngày xưa! Cổ tích mà.

Hạnh như cìm vào một cơn mơ :

_ Thầy bảo em là người đào hoa nhưng cô độc.Điều ấy em nghiệm thấy rất đúng . Hiện giờ có nhiều người thương em thực lòng.Nhưng lòng em lại trống không vô cảm . Em sợ cái vòng luân hồi của kiếp trước lắm rồi

Tôi muốn tránh đi cái không khí ảm đạm:

_ Lại duy tâm rôiø.Thầy tưởng em thực dụng chứ ? Xây vi la này , đi xe con này, mở mang kinh doanh này , xuất nhập cảnh như đi chợ này,  Hạnh bây giờ là một bà đầm Tây rồi , chưa đủ sao?

Hạnh lắc đầu nhè nhẹ :

_Đúng như thầy nói,   em đang sống một kiếp người khác , nhưng em vẫn là con người Việt Nam ngày xưa,

Tôi làm bộ ngiêm túc :

_Chân lý của em là gì ?

Hạnh vẫn tin cẩn :

_ Thấy biết rồi mà. Mấy chục năm rồi thầy vẫn dấu em. Dù ở đâu , làm gì em luôn cô độc và khổ sở .Tâm hồn em hoang vu,  khô khốc như sa mạc. Em lao vào công việc để khoả lấp nó đi . Em sống thực dụng là như vậy.

Tôi vẫn đánh trống lảng :

_ Bây giờ thầy thấy em đạt được những nguyện ước của mình rồi, vẻ vang và hạnh phúc hơn bao nhiêu người khác..

Hạnh tỉnh táo hơn :

_ Thầy lại nói dối em rồi ..

Cả hai thầy trò cùng cười. Hạnh cười thành tiếng , trong trẻo và giòn tan.  Tôi chưa bao giờ  nghe được  tiếng cười trẻ thơ như vậy ở Hạnh.Tôi cũng không biết nên vui hay nên buồn cùng với Hạnh .Dường như cả hai thầy trò vẫn đang diễn kịch …

 

                                                                                    Tháng 7 / 2003